Bạn chưa có c/p theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 929.62 -3.04 (-0.33%)
  • HNX-Index 109.69 +0.40 (+0.37%)
  • UPCOM-Index 54.14 -0.10 (-0.18%)
Doanh nghiệp
ACV dốc 45.000 tỷ đồng cho kế hoạch quy mô
Đăng 11/09/2017 | 17:42 GMT+7  |   BizLive
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam - CTCP (ACV) sẵn sàng chi 45.000 tỷ đồng cho việc mở rộng công suất của 8 cảng hàng không trọng yếu để đạt được mục tiêu đón 140 triệu lượt khách vào năm 2021. Chia sẻ
Đầu tư lớn
Một định hướng đầu tư phát triển trong 5 năm tới (2017 - 2021) vừa được nhóm người đại diện phần vốn Nhà nước tại ACV - đơn vị đang quản lý, khai thác 22 cảng hàng không trên khắp cả nước trình Bộ Giao thông - Vận tải (GTVT).
Với việc đang nắm tới 95,4% vốn điều lệ, cổ đông Nhà nước có tiếng nói quyết định đối với mọi hoạt động của ACV bao gồm định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn, hợp tác kinh doanh và phân chia lợi nhuận…
Được xây dựng trên những dự báo khá thận trọng, nhưng tốc độ tăng trưởng hành khách bình quân qua 3 cảng hàng không cấp 1, 8 cảng hàng không cấp 2 và 11 cảng hàng không cấp 3 của ACV vẫn duy trì ở hai con số (11,4%/năm).
Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng như dự báo, tổng sản lượng khách qua các cảng hàng không do ACV quản lý có thể cán mốc 138,6 triệu lượt vào năm 2021, tăng hơn 58,6% so với năm 2016 (80,9 triệu), trong đó, riêng khách quốc tế đạt 38,7 triệu lượt.
Hiện chưa rõ lý do khiến ông Lại Xuân Thanh, tân Chủ tịch HĐQT và cũng là trưởng nhóm người đại diện phần vốn Nhà nước tại ACV lại đưa dự báo thận trọng như vậy, bởi trong hồ sơ điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT hàng không giai đoạn 2020, định hướng đến năm 2030, Cục Hàng không Việt Nam đặt dự báo tăng trưởng bình quân khách qua cảng hàng không cho giai đoạn 5 năm tới là 14,2% và sản lượng hành khách có thể đạt khoảng 142 triệu lượt khách vào năm 2020.
Theo người đại diện phần vốn Nhà nước tại ACV, để có thể đáp ứng được nhu cầu đi lại của hàng khách và đảm bảo kế hoạch kinh doanh không bị vỡ, ACV sẽ phải dồn vốn để nâng cấp, mở rộng 8 cảng hàng không trọng yếu, với tổng nhu cầu vốn có thể lên tới trên 45.145 tỷ đồng, được rải dần trong 5 năm tới.
Cụ thể, tại sân bay Tân Sơn Nhất, ACV sẽ phải sớm huy động vốn để xây dựng nhà ga, đường hạ cất cánh, đường lăn, các công trình phụ trợ… để đáp ứng công suất 45 triệu hành khách/năm vào năm 2019. Dù vẫn phải chờ Bộ GTVT nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch cảng hàng không lớn nhất nước này, nhưng tổng nhu cầu vốn mà ACV phải chuẩn bị huy động cho sân bay Tân Sơn Nhất vào khoảng 8.200 tỷ đồng.
Tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, ACV cần khoảng 12.150 tỷ đồng để đầu tư nâng cấp nhà ga, đường hạ cất cánh, đường lăn, sân đỗ, thiết bị  đảm bảo hoạt động bay để đáp ứng công suất khai thác khách quốc nội lên 25 triệu lượt/năm. Đồng thời, đơn vị chủ cảng sẽ phải thực hiện các bước lập dự án đầu tư xây dựng mới nhà ga T3 để sau năm 2020 nâng công suất cảng hàng không Nội Bài lên 50 triệu lượt khách/năm.
Các cảng hàng không còn lại dự kiến được đầu tư lớn là Đà Nẵng (mở rộng nhà ga trong nước lên công suất 10 - 12 triệu lượt/năm; nhà ga hàng hóa lên 200.000 tấn/năm; chi phí 3.672 tỷ đồng); Phú Quốc (mở rộng nhà ga đạt công suất 5 triệu lượt khách/năm vào năm 2018; chuẩn bị đầu tư xây dựng đường hạ cất cánh số 2; chi phí 4.356 tỷ đồng); Cam Ranh (xây dựng nhà ga hành khách T3 công suất 5 triệu lượt hành khách/năm; chi phí 2.250 tỷ đồng); Chu Lai (đầu tư xây dựng thành một trung tâm trung chuyển, vận tải hàng hóa lớn với một nhà ga công suất 5 triệu lượt khách/năm; xây đường hạ cất cánh mới; chi phí khoảng 6.289 tỷ đồng)...
“Đối với Dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành, Tổng công ty đang tập trung thực hiện xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi trình Quốc hội thông qua theo kế hoạch”, ông Thanh cho biết.
Thắt lưng, buộc bụng
Hiện chưa rõ, ACV sẽ một mình thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng này hay liên doanh với các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện, tuy nhiên, trong kế hoạch 5 năm vừa trình Bộ GTVT, người đại diện phần vốn Nhà nước tại ACV đã xây dựng 3 phương án cân đối vốn để đáp ứng cho nhu cầu 45.145 tỷ đồng để đầu tư vào lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng.
Cụ thể, với phương án 1 - chia cổ tức bằng tiền, ACV sẽ sử dụng nguồn vốn tự có; vay thương mại hoặc phát hành trái phiếu đối với các dự án thu hồi vốn nhanh để bù đắp khoản chênh lệch nhu cầu vốn và tích lũy dòng tiền bị âm 9.611 tỷ đồng.
Phương án 2, ACV sẽ chia cổ tức bằng cổ phiếu trong 5 năm tới. Với phương án “thắt lưng, buộc bụng” này, chênh lệch giữa nhu cầu vốn - tích lũy dòng tiền dương 186 tỷ đồng.
Phương án 3, kết hợp chia cổ tức bằng tiền và chia cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 40/60, ACV phải bù đắp khoản chênh lệch âm 3.732 tỷ đồng giữ nhu cầu vốn và tích lũy dòng tiền bằng các khoản vay thương mại, phát hành trái phiếu.
Trên cơ sở cân nhắc, người đại diện phần vốn tại ACV đề nghị Bộ GTVT cho phép được chi cổ tức bằng cổ phiếu, hoặc không chia cổ tức trong giai đoạn 2017 - 2021 nhằm tích lũy nguồn lực để đầu tư lớn.
Theo tính toán của ACV, doanh thu của công ty mẹ - ACV sẽ đạt khoảng 21.000 tỷ đồng vào năm 2021; lợi nhuận trước thuế cùng kỳ đạt 5.400 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8%/năm cho cả hai chỉ tiêu kinh doanh quan trọng này. Nếu thực hiện chia cổ tức, mỗi cổ phiếu mã chứng khoán ACV sẽ mang lại cho cổ đông khoảng 9%/năm cho cả giai đoạn 2017 - 2020.
Cần phải nói thêm rằng, dự báo của ông Lại Xuân Thanh là có cơ sở, bởi trong 6 tháng đầu năm 2017, doanh thu của ACV đã đạt 7.459 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 2.364 tỷ đồng, lần lượt đạt 56,11% và 64,43% kế hoạch năm.
Bên cạnh khoản lợi nhuận, để có thêm nguồn tích lũy, ACV cũng xin Bộ GTVT cho phép đơn vị được điều chỉnh giá một số dịch vụ hàng không và giá nhượng quyền từ năm 2020 trở đi.
Mặc dù là doanh nghiệp kinh doanh về khai thác hạ tầng hàng không, nhưng lợi nhuận từ dịch vụ từ ngành nghề chính của ACV lại không tương xứng với quy mô đầu tư, lợi nhuận chủ yếu lại chảy từ kinh doanh tài chính và các hoạt động khác. Trên thực tế, các đề xuất điều chỉnh hệ thống giá dịch vụ hàng không nội địa của đơn vị chủ cảng không phải là tăng giá dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các hãng hàng không, mà mục đích là điều chỉnh giá dịch vụ hàng không nội địa tiệm cận giá thành thực tế. Trong toàn ACV, chỉ có hoạt động kinh doanh tại Nội Bài và Tân Sơn Nhất là có lãi và đang phải bù chéo cho 18 cảng hàng không còn lại. Hai sân bay mới đạt đến điểm hoà vốn trong hệ thống là Cam Ranh và Đà Nẵng.
Lãnh đạo ACV cho rằng, thực tế chính sách hiện nay đang ưu đãi các hãng hàng không nội địa bằng hình thức bù lỗ chi phí đầu vào thông qua mức giá dịch vụ hàng không bị nhà nước khống chế. Khoản bù lỗ chi phí này tác động trực tiếp làm giảm doanh thu dịch vụ hàng không của ACV.
“Phải gánh chịu khoản bù lỗ chi phí đầu vào cho các hãng hàng không trong nước, nên ACV không thể có nguồn lợi nhuận ổn định từ dịch vụ hàng không nhằm tích lũy tái đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng các cảng hàng không”, lãnh đạo ACV cho biết.

Theo Báo Đầu Tư


Doanh nghiệp

Mai Linh Bike ra mắt: Cuộc chơi này sẽ "đốt" tiền đến chết, Mai Linh đã sẵn sàng chưa?

Doanh nghiệp  |   CafeF  |   5 giờ trước

Mai Linh phải nhớ rằng, Uber hiện tại đang định giá lên đến 68 tỷ đô, lần gần đây nhất vào tháng 7 công ty này được rót vốn tận 2,5 tỷ đô. Trong khi đó, Grab “hạt giống” của Đông Nam Á trong nền kinh tế chia sẻ cũng mới nhận được vốn 2 tỷ đô để vận hành ở 6 nước Đông Nam Á.

CTI: Công suất nghiền đá tăng thêm 40% và tiềm năng tăng trưởng từ ngành khai thác đá

Doanh nghiệp  |   NDH  |   5 giờ trước

(NDH) Khai thác vật liệu đá xây dựng là một chiến lược kinh doanh quan trọng của CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO (Mã CK: CTI) nhằm chủ động nguồn cung vật liệu đá xây dựng, khi mà nguồn cung vật liệu này đang có xu hướng ngày càng khan hiếm về số lượng và chất lượng.

VOS, VNA, DDM và Vinalines VLC ký hợp đồng vận chuyển phân bón với 2 đối tác Malaysia

Doanh nghiệp  |   VietStock  |   6 giờ trước

Vừa qua, các doanh nghiệp vận tải biển thuộc Vinalines bao gồm CTCP Vận tải biển Việt Nam (Vosco, HOSE: VOS), Công ty Vận tải biển Vinalines VLC, CTCP Vận tải biển Vinaship (UPCoM: VNA) và CTCP Hàng hải Đông Đô (UPCoM: DDM) liên kết lại để ký hợp đồng khung với các tập đoàn lớn của Malaysia như Petronas Chemicals Marketing Ltd, Hemat Marine Sdn Bhd về vận chuyển phân bón.

EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 14,250
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 84,000
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,800
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 2,800
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,200
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,300
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,580
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
TOP CTCP Phân phối Top One 1,600
AAAI CTCP Bảo hiểm AAA 8,000
AAM Công ty Cổ phần Thủy sản Mekong (MEKONGFISH) 10,500
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 27,200
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 22,200
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 8,600
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,100
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,400
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,700
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 69,100
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,550
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,180
BBC Công ty Cổ phần Bibica (BIBICA) 102,000
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,650
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 32,100
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 31,500
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 25,900
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 16,000
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 32,800
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 91,200
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 10,250
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 10,450
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 36,000
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 57,400
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 36,800
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 15,000
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 14,600
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,800
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 16,900
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,550
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 65,000
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,790
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 26,500
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 19,000
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 26,300
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 11,000
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,410
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 27,700
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 15,000
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 236,000
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 23,350
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 27,700
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 65,000
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 9,250
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 21,400
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 33,250
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 36,700
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 104,000
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 3,680
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,190
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 34,000
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,000
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 15,300
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 24,100
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 16,000
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 28,200
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,100
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,100
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,400
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 11,000
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 6,900
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 32,000
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,000
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 6,700
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,500
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 18,500
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 5,400
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,200
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 15,500
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 25,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 37,200
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 33,900
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,300
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,300
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 38,900
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,800
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 3,500
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 10,100
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 6,900
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 51,900
DAD Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Giáo dục Đà Nẵng (DEIDCO) 19,000
DBC Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam (DABACO) 23,000
DBT Công ty Cổ phần Dược phẩm Bến Tre (BEPHARCO) 15,200
DC4 Công ty Cổ phần DIC số 4 (DIC - No4) 9,000
DCS Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Châu (Dai Chau JSC) 2,000
DHT Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây (HATAPHAR) 69,200
DIH Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng - Hội An (DIC - Hội An) 11,900
DL1 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Dịch vụ Công trình Công cộng Đức Long Gia Lai (DLGL INDPS) 41,800
DNP Công ty Cổ phần Nhựa Đồng Nai (DONAPLAST ) 21,600
DNY Công ty Cổ phần Thép Dana - Ý (DNY) 7,600
DST Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Nam Định (NABECO) 14,500
DXP Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá (DoanXa Port) 13,000
DZM Công ty Cổ phần Chế tạo máy Dzĩ An (DZIMA) 3,800
EBS Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại Tp.Hà Nội (Haebco JSC) 10,100
EFI Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Giáo dục (EFI., JSC) 7,600
EID Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển giáo dục Hà Nội (HEID) 16,400
HAD Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương (HAD) 44,000
HAT Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội (Habeco Trading) 37,800
HBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị trường học Hà Tĩnh (HTBEECO) 9,200
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 29,500
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,500
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,700
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 23,300
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 8,200
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 8,800
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 9,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 15,600
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 10,700
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,000
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 11,300
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,300
NBW Công ty Cổ phần Cấp nước Nhà Bè (NHA BE WASUCO JSC) 20,400
ND2 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển điện Miền Bắc 2 (NEDI2) 19,900
NHN Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Nam Hà Nội (HANOI City .,JSC) 30,000
NTW Công ty cổ phần Cấp nước Nhơn Trạch (NTWA) 22,400
PMT Công ty cổ phần Viễn thông TELVINA Việt Nam (TELVINA .,JsC) 4,000
PSB Công ty cổ phần Đầu tư Dầu khí Sao Mai – Bến Đình (PVSB) 5,900
PSL Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Sơn (PHU SON LIVESTOCK COMPANY) 47,000
PSP Công ty Cổ phần Cảng dịch vụ Dầu khí Đình Vũ (PTSC Đình Vũ) 7,900
PTT Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Đông Dương (Petrotrans) 4,000
S33 Công ty cổ phần Mía đường 333 (THE 333 SUCO ) 27,500
SBS Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBS) 2,100
SHV Công ty Cổ phần Hải Việt (HAVICO) 12,000
SMB Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Miền Trung (SMB) 29,200
SWC Tổng Công ty Cổ phần Đường Sông Miền Nam (SOWATCO) 12,200
TDS Công ty cổ phần Thép Thủ Đức (VIKIMCO) 11,700
TIS Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) 13,800
TLT Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long (TTC) 16,500
TMW Công ty Cổ phần Tổng hợp Gỗ Tân Mai 15,000
UDJ Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị (Becamex UDJ) 7,000
VCA Công ty Cổ phần Thép Biên Hòa (VICASA) 12,000
VHH Công ty cổ phần Đầu tư Kinh doanh nhà Thành Đạt 2,400
VKD Công ty Cổ phần Nước khoáng Khánh Hòa (VIKODA) 47,800
VTA Công ty Cổ phần Vitaly (VITALY JS. Co ) 8,000
WSB Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Miền Tây (WSB) 53,700
VFC Công ty Cổ phần VINAFCO (VINAFCO) 7,800
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 13,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 9,700
NSP Công ty Cổ phần Nhựa Sam Phú (SPC) 7,400
REM Công ty cổ phần Tu bổ di tích Trung ương - Vinaremon (VINAREMON) 2,600
SGN Công ty cổ phần Phục vụ Mặt đất Sài Gòn (SAGS) 160,000
PFL Công ty cổ phần Dầu khí Đông Đô (PVC-Dong Do .,JSC) 1,400
VNI Công ty cổ phần Đầu tư Bất động sản Việt Nam (VinaLand Invest Corp) 8,000
VPC Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Năng lượng Việt Nam (V- Power) 900
PIC CTCP Đầu tư Điện lực 3 15,400
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2017 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.