Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 878.67 +9.70 (+1.12%)
  • HNX-Index 114.14 +4.32 (+3.94%)
  • UPCOM-Index 55.59 +0.56 (+1.01%)
Kinh tế quốc tế
Cả thế giới cắt giảm lãi suất, các ngân hàng "méo mặt"
Đăng 19/09/2019 | 10:04 GMT+7  |   CafeF
Gia tăng các chính sách tiền tệ khác thường có thể gây ra những phản ứng khó đoán.

Triển vọng kinh tế ảm đạm cùng áp lực chính trị leo thang hiện nay khiến các ngân hàng trung ương lựa chọn các chính sách tiền tệ khác thường và hiếu chiến hơn. Nhiều người lo ngại rằng những chính sách này, đặc biệt là chính sách lãi suất âm, sẽ đe doạ trạng thái cân bằng của hệ thống tài chính. Cụ thể, lãi suất âm có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm trên thị trường tín dụng và nền kinh tế thực.

Tương tự như kinh nghiệm từ Nhật Bản và châu Âu, quá trình trên thường diễn biến theo lối mòn: tăng trưởng thấp, lạm phát thấp, giảm sản lượng, thất nghiệp và thiếu việc làm – kết hợp cùng tình hình tài chính bất ổn, đặc biệt là giá của các loại tài sản dễ biến động. Tất cả những yếu tố này buộc các ngân hàng trung ương phải giảm lãi suất xuống dưới mức 0 nhằm kích thích vay, thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư, từ đó, tạo ra một chu kỳ tăng trưởng tự duy trì.

Tuy nhiên, thông thường, lãi suất âm không hoàn toàn phản ánh tỉ lệ vay và cho vay thực tế. Theo luật định, các ngân hàng phải đảm bảo duy trì lượng tiền gửi cơ bản của khách hàng. Lo sợ mất khách hàng, các ngân hàng thường khá do dự khi phải giảm sâu lãi suất huy động. Tại châu Âu, tính tới thời điểm hiện tại, chỉ có những doanh nghiệp lớn mới có đủ khả năng ứng phó với lãi suất âm.

Khi biên lãi suất và lợi nhuận giảm, các ngân hàng tăng phí hoặc tìm tới các biện pháp sinh lời khác nhằm tăng thu nhập. Điều này khiến giá trị cho vay thực tế cao hơn, đi ngược lại trọng tâm của chính sách lãi suất âm.

Khi nền kinh tế khủng hoảng, các nhà hoạch định chính sách cố gắng vớt vát tình thế bằng cách tiếp tục cắt giảm lãi suất. Lãi suất trái phiếu chính phủ giảm sâu xuống mức âm, đường cong lãi suất chạy ngang hay thậm chí là đảo ngược. Lợi nhuận của các ngân hàng sở hữu nợ chính phủ lớn sẽ giảm mạnh.

Lợi nhuận giảm ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của các ngân hàng và gia tăng lo ngại về tương lai của cổ tức, mua lại nợ và hoàn vốn. Những ngân hàng yếu hơn sẽ gặp vấn đề khi gọi vốn. Hệ quả là chi phí đi vay của mọi ngân hàng đều tăng.

Tình trạng này khiến lượng tín dụng sẵn có giảm, gây giảm tiêu dùng và đầu tư. Ngay cả nếu ngân hàng trả lợi tức cho các nhà đầu tư, thì tình hình cũng sẽ không khởi sắc do động thái này sẽ khiến lo ngại cổ tức sụt giảm tăng cao. Thay vì kích thích nền kinh tế, lãi suất âm sẽ khiến tình trạng bất ổn tăng trong tương lai, chi tiêu hộ gia đình cũng sẽ giảm do lo ngại về tiền tiết kiệm sau khi về hưu và những vấn đề khác.

Tăng trưởng chậm cũng làm gia tăng nợ xấu, ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của ngân hàng, giảm hoạt động cho vay và tăng chi phí đi vay, khiến biên tín dụng cho người vay tăng lên.

Lãi suất âm còn phá huỷ nhiều ưu đãi từ ngân hàng. Trước tình hình lợi nhuận sụt giảm, các ngân hàng sẽ kéo dài vòng đời của các doanh nghiệp "xác sống" nhằm thanh toán các khoản nợ khi lãi suất xuống quá thấp và ngân hàng không có khả năng hoàn trả số tiền gốc. Tuy nhiên, đây không phải là một cách sử dụng vốn hiệu quả bởi nó làm giảm khả năng tăng trưởng tiềm năng và làm suy yếu nền kinh tế trong dài hạn.

Những ngân hàng đang gặp khó khăn thường ít có nhu cầu mua trái phiếu chính phủ, do đó, hạn chế khả năng cấp tiền cho các hoạt động của quốc gia. Trong trường hợp xấu nhất, khi các ngân hàng cần giúp đỡ để giải quyết nợ, các chính phủ, vốn đã đang trong tình trạng nợ nần chồng chất, sẽ phải tiếp tục đi vay để tái cấp vốn cho ngân hàng hoặc đảm bảo tiền gửi của khách hàng. Mức nợ tăng cùng trách nhiệm trả nợ tăng khiến quốc gia không thể thoát khỏi tình trạng lãi suất thấp hoặc âm.

Ban đầu, tác động tiêu cực của những diễn tiến trên sẽ khá đa dạng, tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời của các ngân hàng trong nước, cũng như biên lãi suất và danh mục cho vay của họ. Các ngân hàng châu Âu và Nhật Bản với biên lợi nhuận thấp và nợ xấu cao thường rất dễ bị tổn thương. Cuối cùng, rắc rối sẽ lan rộng. Các ngân hàng Mỹ đã bắt đầu giảm dự đoán thu nhập do lãi suất thấp.

Có hai kênh giao dịch lãi suất âm cơ bản giữa các quốc gia. Tại châu Âu và Nhật Bản, các ngân hàng có lãi suất âm thường rất tích cực xuất vốn và giảm các sinh lời nhuận khác. Ngoài ra, lãi suất tương đối tăng thường đẩy giá tiền tệ tăng, khiến các quốc gia phải điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với lãi suất cắt giảm nhằm duy trì năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, vẫn có một vài lựa chọn khác. Ví dụ, hiện nay, Đức đang rà soát nhằm xem xét có nên dừng hoạt động tính phí khách hàng lẻ khi gửi tiền tại các ngân hàng. Ngoài ra, tạo ra tài sản an toàn đặc biệt hoặc tài khoản tiết kiệm cũng là những biện pháp hiệu quả nhằm đảm bảo lãi suất dương, và hạn chế chính sách lãi suất âm.

Một lựa chọn khác là các ngân hàng trung ương cho vay trực tiếp hoặc thông qua ngân hàng (ví dụ như tổ chức tái cấp vốn dài hạn của Ngân hàng Trung ương châu Âu) với lãi suất ưu đãi. Tuy nhiên, có thể sẽ không có nhiều nhu cầu vay vốn, do vậy, hiệu quả của những biện pháp này chỉ ở mức trung bình.

Trên thực tế, thế giới vẫn chưa rút ra bài học từ năm 2008: mô hình kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng và đầu tư do các khoản vay vượt mức không hề bền vững. Lãi suất thấp không đem lại hiệu quả, mà chỉ làm suy yếu hệ thống tài chính và cả nền kinh tế. Do vậy, hạ lãi suất không phải là cơ chế duy trì mức độ nợ vượt mức trong dài hạn.

Một người nông dân từng khuyên một khách du lịch lạc lối: "Nếu muốn đến đó, tôi sẽ không xuất phát từ đây." Các nhà hoạch định chính sách đã bỏ lỡ cơ hội tiến hành những thay đổi căn bản khi khủng hoảng mới bắt đầu. Vì vậy, chẳng bất ngờ gì khi họ đang lang thang vô định.

Tổng thống Trump muốn Fed áp dụng lãi suất âm nhưng chính sách này có thực sự hiệu quả?

Kinh tế quốc tế

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 12,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 15,500
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 2,700
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,800
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 33,500
ACC CTCP Bê Tông Becamex 18,550
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 25,200
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,900
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 13,850
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,550
ANV CTCP Nam Việt 18,600
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 17,600
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 5,740
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 5,480
BBC CTCP Bibica 49,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 7,750
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 21,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 41,450
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,400
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,800
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 47,600
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,450
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 14,850
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 40,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 50,700
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 25,300
C47 CTCP Xây Dựng 47 11,400
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 7,600
CDC CTCP Chương Dương 16,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 19,400
CLC CTCP Cát Lợi 27,150
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,300
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 26,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 27,850
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 6,700
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 13,950
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 16,600
CNG CTCP CNG Việt Nam 21,600
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 42,450
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 16,000
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 77,300
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 23,500
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 18,800
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 63,500
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,310
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 21,250
DHA CTCP Hóa An 31,700
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 36,300
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 25,100
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 14,100
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,900
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 1,800
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,200
AME CTCP Alphanam E&C 6,900
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 17,100
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 9,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 4,400
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,500
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 29,600
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 1,100
B82 CTCP 482 400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,700
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,800
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 4,200
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,600
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 11,400
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 14,700
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,300
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 9,500
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,600
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 22,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 29,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 26,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 7,700
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 17,100
CKV CTCP COKYVINA 14,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,300
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,300
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 2,700
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 16,200
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 22,600
CT6 CTCP Công Trình 6 3,200
CTA CTCP Vinavico 100
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 34,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,300
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 9,000
CVN CTCP Vinam 10,400
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 8,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 30,900
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 16,000
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 14,200
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 44,150
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 11,100
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 700
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 27,700
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 2,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 3,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,000
HDO CTCP Hưng Đạo Container 200
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 300
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 400
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 4,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 35,600
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 3,600
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 26,700
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 32,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 23,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,500
BVN CTCP Bông Việt Nam 11,700
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 4,700
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 300
CFC CTCP Cafico Việt Nam 23,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,000
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,300
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 18,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 10,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 40,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 10,200
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 109,800
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 18,800
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 18,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 9,400
DPP CTCP Dược Đồng Nai 16,300
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 27,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,500
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 31,900
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 8,600
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,100
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 31,500
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,600
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 13,800
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,100
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 10,800
HDM CTCP Dệt May Huế 15,700
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2020 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp