Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 932.34 -1.36 (-0.15%)
  • HNX-Index 110.20 +0.02 (+0.02%)
  • UPCOM-Index 53.75 -0.51 (-0.94%)
Tài chính ngân hàng
Chuyên gia Fulbright: Nợ xấu là gánh nặng lớn nhất đang kéo tăng trưởng đi xuống
Đăng 28/06/2017 | 11:17 GMT+7  |   CafeF
"Nợ xấu lớn trong hệ thống ngân hàng vẫn nằm đó có nghĩa là nền kinh tế vẫn phải dùng nguồn lực khan hiếm để nuôi. Đây là gánh nặng lớn nhất đang kéo tăng trưởng đi xuống", ông Nguyễn Xuân Thành nói. q

Sức ép tăng trưởng và nguy cơ tụt hậu

Trong nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Việt Nam gửi tới Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2017, ông Nguyễn Xuân Thành (Đại học Fulbright Việt Nam) cho rằng hiện nay chúng ta đang đứng trước sức ép lớn về kết quả tăng trưởng kinh tế.

Với mức tăng trưởng 5,1% trong quý I/2017, ông Thành cho rằng đây là kết quả gây ngạc nhiên. Bởi trước đó kỳ vọng chung vào thời điểm cuối 2016 là kinh tế sẽ khởi sắc hơn khi bước vào 2017.

Nguồn: Tổng cục Thống kê

"Như vậy, Chính phủ đang đứng trước sức ép lớn về kết quả tăng trưởng kinh tế. Mức tăng GDP của hai năm đầu nhiệm kỳ này đều thua so với năm cuối của nhiệm kỳ trước", ông Thành nhận định.

Theo ông Thành, cuối 2015, Chính phủ đã đề ra mục tiêu tăng trưởng cho 2016 là 6,7%, nhưng kết quả cuối cùng là 6,21%. Cuối 2016, Chính phủ vẫn kiên quyết đưa ra mục tiêu 6,7% cho 2017. Nhưng với kết quả 5,1% trong quý 1 này thì 3 quý còn lại phải đạt bình quân 7%.

"Từ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia trong hệ thống nhà nước đến chuyên gia bên ngoài đều hiểu rõ khả năng này gần như không thể", ông Thành nói.

Trong khi đó, kế hoạch trung hạn 5 năm cũng đặt ra mục tiêu tăng trưởng từ 6,5 - 7%, trong khi năm 2016 không đạt, nên nếu năm 2017 tiếp tục không đạt thì những năm còn lại sẽ phải tăng tốc nhanh. Đó là sức ép lớn để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong trung hạn.

Do vậy, ông Thành cho rằng về dài hạn, mắc bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu là có thực. Báo cáo Việt Nam 2035 chỉ ra nếu tăng trưởng bình quân đạt dưới 6% thì Việt Nam 20 năm nữa vẫn thua nhiều nền kinh tế châu Á ngày hôm nay.

"Biết rằng chỉ số GDP dùng làm thước đo phát triển kinh tế có khiếm khuyết nhưng vẫn phải tăng GDP ở mức cao. Và trong khi chưa có một thước đo tốt hơn thì chỉ số GDP vẫn phải được dùng. Vấn đề quan trọng là cách làm để đạt tăng trưởng GDP nhanh và hiệu quả", ông Thành nói.

Vậy tại sao chúng ta lại có một kết quả tăng trưởng không khả quan như kỳ vọng? Để trả câu hỏi này, ông Nguyễn Xuân Thành đã phân tích từ 3 góc độ cơ cấu: cơ cấu từ phía tổng cung (sản xuất); cơ cấu từ phía tổng cầu; và cơ cấu từ vấn đề chính sách tái cấu trúc kinh tế.

Trước hết, theo ông Thành, nhìn từ phía sản xuất thì câu trả lời là suy giảm công nghiệp khai thác (âm 10%) và tăng trưởng chậm hơn trong công nghiệp chế biến - chế tạo và xây dựng.

Trong khi đó, sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam giảm mạnh nhưng vì giá dầu thế giới tăng nên giá trị tính bằng tiền của xuất khẩu dầu thô mới tăng 27%.

"Vậy, nếu chỉ xét về mặt kỹ thuật, chúng ta sẽ nói rằng tăng trưởng chậm lại chủ yếu vì công nghiệp khai thác giảm mạnh. Nếu chỉ vậy thì giải pháp ngắn hạn và mang tính hành chính là Chính phủ chỉ đạo Tập đoàn Dầu khi tăng mạnh khai thác dầu thô trong những tháng còn lại của năm 2017", ông Thành cho biết.

Nhưng điều đáng nói, theo ông Thành, đó là ở vấn đề là về giá trị tuyệt đối, thì trữ lượng dầu thô hiện này có cho phép tăng liên tục không hàng quý và hàng năm được không. Đẩy mạnh khai thác quý/năm này lên thì cũng là đặt một cột mốc cao mới, để buộc quý/năm sau phải có một con sốt tuyệt đối về sản lượng cao hơn.

Tăng trưởng của các ngành kinh tế quý 1/2017 so với quý 1/2016 (%). Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tăng trưởng suy giảm không phải do sức mua và sức cầu đầu tư yếu

Trong khi đó, từ phía tổng cầu lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Cụ thể, theo ông Thành, tiêu dùng và đầu tư đều gia tăng mạnh và có mức đóng góp lớn hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

"Nói cách khác, sự suy giảm tăng trưởng này cũng không phải do sức mua hay sức đầu tư của nền kinh tế yếu đi. Dân vẫn tăng tiêu dùng, doanh nghiệp vẫn tăng đầu tư và còn mạnh hơn cùng kỳ năm trước", ông Thành nói.

Do vậy, theo ông Thành, vấn đề của nền kinh tế Việt Nam là cho dù sức cầu của nền kinh tế có tăng mạnh mà các rào cản tăng trưởng vẫn tồn tại thì cũng không đóng góp được bao nhiêu cho phát triển kinh tế.

"Tóm lại, nhìn từ phía tổng cầu, có hai điểm đáng lưu ý: Thứ nhất, tăng trưởng suy giảm không phải do sức mua và sức cầu đầu tư yếu. Thứ hai, nhu cầu gia tăng đầu tư và tiêu dùng chỉ được đáp ứng một phần từ sản xuất trong nước cùng với một phần đáng kể từ nhập khẩu", ông Thành cho biết.

Rào cản thể chế?

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành đặt vấn đề: Yếu tố thứ ba, có phải là do rào cản thể chế hay không?

"Thời gian vừa qua, Chính phủ đã đưa ra thông điệp khá mạnh mẽ, khẳng định quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, tạo một môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Tức là về thông điệp về cải cách thể chế khá tích cực. Rào cản thể chế thường có tác động lên tăng trưởng về mặt dài hạn. Nói cách khác, rào cản thể chế không giải thích được cho tăng trưởng quý 1/2017 thấp đi", ông Thành nhận định.

Như vậy, theo ông Thành, lý do cuối cùng có thể nằm ở vấn đề cơ cấu: ngân hàng, đầu tư công – nợ công và doanh nghiệp nhà nước.

Nợ xấu lớn trong hệ thống ngân hàng vẫn nằm đó có nghĩa là nền kinh tế vẫn phải dùng nguồn lực khan hiếm để nuôi. Đây là gánh nặng lớn nhất đang kéo tăng trưởng đi xuống, ông Thành nhận định.

Theo phân tích của ông Thành, Việt Nam đang là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong khu vực, nhưng tín dụng tăng không thúc đẩy nhanh được tăng trưởng kinh tế. Đó là vì các ngân hàng muốn tìm kiếm lợi nhuận cao thì phải đẩy mạnh mảng tín dụng tiêu dùng; còn muốn an toàn thì đầu tư trái phiếu chính phủ hay cho vay một số lượng nhỏ các doanh nghiệp lớn có uy tín và tài sản đảm bảo. Nợ xấu và lãi dự thu cao đòi hỏi một phần đáng kể của gia tăng tín dụng thực ra là cho vay mới để trả lãi và nợ cũ.

Chính vì vậy, không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn đói tín dụng mặc dù tín cho cả nền kinh tế tăng 18,25% trong năm 2016 và 5,76% trong 4 tháng đầu năm 2017 (cao nhất trong 8 năm qua và tương đương 20,2% so với cùng kỳ).

Do vậy, ông Thành cho rằng lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng thương mại thông qua xử lý nợ xấu và nâng vốn chủ sở hữu phải là ưu tiên chính sách hàng đầu.

Cũng theo vị này, nền kinh tế vẫn cần đầu tư công không phải chỉ để thúc đẩy tăng trưởng ở phía cầu, mà quan trọng hơn là khai thông các điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng. Nhưng đầu tư công toàn phải đi vay nợ mà nợ công đã đạt trần 65% GDP. Trong giai đoạn trước, đầu tư công là ở mức cao so với quy mô nền kinh tế, nhưng vì kém hiệu quả, nên tài sản chất lược tạo ra từ đầu tư không được là bao.

Vì thế, để có tăng trưởng trong giai đoạn này vẫn phải đầu tư nhưng nguồn lực đã cạn kiệt. Để có đầu tư công trong ngắn hạn mà không phá vỡ trần nợ công thì chỉ có nguồn tiền từ cổ phần hóa và thoái vốn trong DNNN, ông Thành nêu quan điểm.

Theo N.Mạnh

Bizlive


Tài chính ngân hàng

Cơ hội cho các ngân hàng yếu kém

Tài chính ngân hàng  |   NDH  |   1 ngày trước

Nếu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc hội thông qua trong kỳ họp đang diễn ra, các ngân hàng yếu kém sẽ đứng trước cơ hội phục hồi rất lớn từ những biện pháp hỗ trợ chưa từng được áp dụng trước đây.

NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 86,000
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,900
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 2,700
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,200
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,300
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,700
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO TCT Cổ Phần Bưu Chính Viettel 56,294
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 6,500
TOP CTCP Phân phối Top One 1,600
SHG Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunhouse 3,400
AAAI CTCP Bảo hiểm AAA 34,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,500
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 21,500
ACL Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (CL - Fish Corp ) 8,680
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 8,550
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,380
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,890
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 72,000
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,500
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,290
BBC Công ty Cổ phần Bibica (BIBICA) 99,500
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,610
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 33,100
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 31,500
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 25,400
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 15,600
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 32,500
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 91,500
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 35,150
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 56,800
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 37,300
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 14,000
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,720
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 17,000
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,000
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,700
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 26,200
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 18,050
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 25,800
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 10,250
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,250
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 27,600
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,700
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 234,200
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 23,400
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 27,500
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 1,700
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 66,900
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 9,200
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 21,700
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 33,400
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 37,200
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 104,200
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 3,700
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,120
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 17,550
DLG Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DUCLONG GIA LAI GROUP) 3,160
DMC Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco (DOMESCO ) 123,600
DPM Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí-CTCP (PVFCCo) 20,900
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 34,000
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 15,300
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 25,000
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 16,000
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 27,600
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,100
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,100
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,400
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 7,000
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,000
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 13,100
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 5,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 38,000
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 33,300
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,300
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 2,200
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,300
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 42,400
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,800
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 10,100
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 6,800
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 52,300
D11 Công ty Cổ phần Địa ốc 11 (RES 11 JSC) 13,800
DAD Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Giáo dục Đà Nẵng (DEIDCO) 19,600
DAE Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại Tp. Đà Nẵng (Daebco) 15,500
DBC Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam (DABACO) 23,500
DBT Công ty Cổ phần Dược phẩm Bến Tre (BEPHARCO) 15,600
DCS Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Châu (Dai Chau JSC) 2,000
DHT Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây (HATAPHAR) 69,500
DL1 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Dịch vụ Công trình Công cộng Đức Long Gia Lai (DLGL INDPS) 39,500
DNM Tổng Công ty cổ phần Y tế Danameco (DANAMECO) 22,100
DNP Công ty Cổ phần Nhựa Đồng Nai (DONAPLAST ) 21,500
DST Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Nam Định (NABECO) 15,300
DXP Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá (DoanXa Port) 13,000
EBS Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại Tp.Hà Nội (Haebco JSC) 10,100
EFI Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Giáo dục (EFI., JSC) 7,200
EID Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển giáo dục Hà Nội (HEID) 16,000
HAD Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương (HAD) 43,400
HAT Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội (Habeco Trading) 36,500
HCC Công ty Cổ phần Bê tông Hoà Cầm - Intimex ( HCC) 19,700
HDA Công ty Cổ phần Hãng sơn Đông Á (HSDA) 9,700
HDO Công ty Cổ phần Hưng Đạo Container (HDO) 800
HEV Công ty Cổ phần Sách Đại học - Dạy nghề (HEVOBCO JSC) 12,000
HHG Công ty Cổ phần Hoàng Hà (Hoang Ha JSC) 7,000
HMH Công ty Cổ phần Hải Minh (HAMI CORP) 11,100
HPC Công ty Cổ phần Chứng khoán Hải Phòng (HASECO) 3,000
HUT CTCP Tasco 10,900
ICG Công ty Cổ phần Xây dựng Sông Hồng (INCOMEX) 7,000
IDJ Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Quốc tế và Phát triển Doanh nghiệp IDJ (IDJ Financial) 2,500
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 500
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 29,400
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 27,000
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 70,000
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 21,000
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 700
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 13,500
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 14,700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 34,700
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,600
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,600
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 11,700
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,100
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 8,500
NBW Công ty Cổ phần Cấp nước Nhà Bè (NHA BE WASUCO JSC) 18,500
ND2 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển điện Miền Bắc 2 (NEDI2) 20,000
NHN Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Nam Hà Nội (HANOI City .,JSC) 30,000
NTB Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác Công trình Giao thông 584 (Transport Engineering Construction And Business In) 600
NTW Công ty cổ phần Cấp nước Nhơn Trạch (NTWA) 20,500
PEC Công ty Cổ phần Cơ khí Điện lực (PEC) 9,900
PMT Công ty cổ phần Viễn thông TELVINA Việt Nam (TELVINA .,JsC) 4,500
PSB Công ty cổ phần Đầu tư Dầu khí Sao Mai – Bến Đình (PVSB) 5,900
PSL Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Sơn (PHU SON LIVESTOCK COMPANY) 50,000
PXM Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Miền Trung (PVC - MT) 400
S96 Công ty Cổ phần Sông Đà 9.06 (Song Da No 9.06 JSC) 600
SBS Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBS) 2,100
SHV Công ty Cổ phần Hải Việt (HAVICO) 12,000
SMB Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Miền Trung (SMB) 29,100
STL Công ty cổ phần Sông Đà - Thăng Long (Song Da – Thang Long., JSC) 1,100
SWC Tổng Công ty Cổ phần Đường Sông Miền Nam (SOWATCO) 12,000
TBT Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Giao thông Bến Tre (TBTCO) 800
TGP Công ty Cổ phần Trường Phú (Truong Phu Corp) 6,100
TIS Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) 13,800
TMW Công ty Cổ phần Tổng hợp Gỗ Tân Mai 15,000
TNM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Công trình (TRANIMEXCO) 4,800
UDJ Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị (Becamex UDJ) 5,800
V11 Công ty Cổ phần Xây dựng số 11 (VINACONEX No11) 300
VCA Công ty Cổ phần Thép Biên Hòa (VICASA) 12,000
VKD Công ty Cổ phần Nước khoáng Khánh Hòa (VIKODA) 48,900
VTA Công ty Cổ phần Vitaly (VITALY JS. Co ) 8,000
WSB Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Miền Tây (WSB) 51,600
VFC Công ty Cổ phần VINAFCO (VINAFCO) 8,500
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 13,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 9,700
NSP Công ty Cổ phần Nhựa Sam Phú (SPC) 7,400
REM Công ty cổ phần Tu bổ di tích Trung ương - Vinaremon (VINAREMON) 2,600
SGN Công ty cổ phần Phục vụ Mặt đất Sài Gòn (SAGS) 160,000
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2017 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.