Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 830.24 +1.95 (+0.24%)
  • HNX-Index 110.02 +0.17 (+0.16%)
  • UPCOM-Index 54.51 +0.11 (+0.20%)
Thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán: Khát vọng nâng tầm
Đăng 12/01/2017 | 16:00 GMT+7  |   TNCK
(ĐTCK) So với giai đoạn bùng nổ, số lượng công ty chứng khoán (CTCK) đã được thu hẹp  khoảng 20% và có thể sẽ tiếp tục bị thu hẹp trong thời gian tới.

Từ khi khai trương hoạt động của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (ngày 20/7/2000) đến nay, chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc cả về số lượng, quy mô cũng như chất lượng hoạt động của các công ty chứng khoán.

Từ chỗ chỉ có 7 công ty chứng khoán với quy mô vốn điều lệ thấp nhất là 6 tỷ đồng và cao nhất là 43 tỷ đồng, có những lúc thị trường chứng khoán Việt Nam có 105 công ty chứng khoán hoạt động, cung cấp dịch vụ, trong đó có công ty có quy mô vốn điều lệ trên 4.200 tỷ đồng (tăng 100 lần so với thời gian đầu hoạt động).

Sau 3 năm tái cấu trúc các công ty chứng khoán, tính tới thời điểm hiện nay, có khoảng trên 80 công ty chứng khoán còn hoạt động.

Các công ty chứng khoán đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường sơ cấp, giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài; tư vấn hỗ trợ phát hành và bảo lãnh phát hành cho các công  ty niêm yết, công  ty đại chúng, giá trị bảo lãnh phát hành mà các công ty chứng khoán thực hiện lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.

ảnh 1

Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tư vấn, môi giới cho nhà đầu tư trong việc ra quyết định đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở tăng cường đầu tư mạnh hệ thống công nghệ thông tin, cùng với việc mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ, tăng cường chất lượng tư vấn và các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, các công ty chứng khoán liên tục thu hút, mở rộng lượng nhà đầu tư tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán: lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2000, toàn thị trường có gần 8.000 nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán, đến nay, con số này trên 1,4 triệu tài khoản; trong đó có hơn 17.000 tài khoản nhà đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, đã có 20 công ty chứng khoán thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhiều đối tác nước ngoài của công ty chứng khoán là những tên tuổi lớn trên thị trường chứng khoán quốc tế như Morgan Stanley, Citibank, Nikko Cordial, SMB Securities, Woori Bank, Korea Investment and Securities, Mirea Securities, CIMB, Kenaga.

Một số công ty chứng khoán lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ đã góp phần hoàn thiện cấu trúc quản trị công ty, phát hiện, ngăn chặn được các rủi ro trong hoạt động cũng nhưng rủi ro đầu tư nhằm đảm bảo hoạt động lành mạnh, bảo toàn vốn phát triển.

Cùng với sự lớn mạnh về số lượng và quy mô của các công ty chứng khoán, các văn bản pháp quy liên quan đến mảng hoạt động của các công ty chứng khoán ngày càng hoàn thiện. Quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán đã trải qua 7 lần ban hành mới và sửa đổi, bổ sung. Theo đó, các hướng dẫn về tổ chức, quản trị công ty chứng khoán, hướng dẫn về nghiệp vụ kinh doanh ngày càng được đổi mới, mở rộng và cập nhật phù hợp với tình hình mới và thông lệ quốc tế, có ban hành Điều lệ mẫu để các công ty chứng khoán thực hiện.

Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã thực hiện và triển khai áp dụng thông lệ quốc tế mới nhất về quản lý an toàn vốn đối với công ty chứng khoán bằng việc ban hành Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính. Thông tư này tiếp tục được sửa đổi bằng Thông tư số 165/2012/TT-BTC ngày 9/10/2012.

ảnh 2
 

Để hướng dẫn công ty chứng khoán thiết lập hệ thống quản trị rủi ro, ngày 26/2/2013, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBCK hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro công ty chứng khoán. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp cho công ty chứng khoán có thể thiết lập và đi vào vận hành tốt hệ thống quản trị rủi ro.

Ngày 9/10/2013, Chủ tịch UBCK cũng ban hành Quyết định số 617/QĐ-UBCK về việc ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán (theo chuẩn CAMEL). Mục đích cốt lõi của Quy chế xếp loại công ty chứng khoán là đóng vai trò như một hệ thống cảnh báo sớm, giúp cơ quan quản lý sớm nhận diện các công ty chứng khoán có nhiều nguy cơ rơi vào diện vi phạm chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định tại Thông tư 226 hoặc có nhiều nguy cơ sụt giảm quy mô vốn chủ sở hữu so với vốn điều lệ ban đầu.

Trên cơ sở xếp loại các công ty chứng khoán thành nhiều nhóm theo kết quả lượng hóa rủi ro mất vốn và không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính, UBCK có thêm một kênh thông tin để hướng nguồn lực vào xử lý các công ty chứng khoán có nguy cơ mất an toàn tài chính. Hơn nữa, kết quả chấm điểm xếp loại được tổng hợp từ các yếu tố như chất lượng vốn, chất lượng tài sản... là các yếu tố định lượng hoặc từ các yếu tố định tính như chất lượng quản trị có thể là những chỉ báo cụ thể về nội dung kiểm tra, giám sát và xử lý cho cơ quan quản lý.

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, công tác thanh kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các công ty chứng khoán cũng được UBCK tăng cường thực hiện. Hàng năm, UBCK thực hiện thanh kiểm tra định kỳ từ 10-20 công ty chứng khoán.

Ngoài ra, Ủy ban còn tổ chức các đoàn kiểm tra bất thường, đặc biệt trong giai đoạn thị trường có những biến động bất thường hoặc có những tin đồn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro hệ thống. Các sai phạm được phát hiện sau các cuộc thanh tra, kiểm tra đều được xử lý nghiêm, tạo tính răn đe cho thị trường.

Qua 16 năm phát triển, khối công ty chứng khoán đã có sự phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng, cùng với sự tham gia đầu tư của nhiều đối tượng cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc số lượng các công ty chứng khoán tăng quá nhanh dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt giữa các công ty chứng khoán, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào khoảng chưa tới 20 công ty chứng khoán và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do gần 70 công ty chứng khoán còn lại nắm giữ). Do đó, đã có những rủi ro khi thị trường biến động mạnh.

Sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung đòi hỏi các công ty chứng khoán phải đi vào chiều sâu nếu muốn tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh đó, khối công ty chứng khoán bộc lộ sự phân hóa nội khối. Chỉ có hơn 10% số công ty chứng khoán có mức vốn điều lệ lớn hơn 500 tỷ đồng.

ảnh 3

Các công ty chứng khoán còn lại, do quy mô vốn nhỏ, gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư hiệu quả thông qua cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành quy mô lớn trong các đợt cổ phần hóa của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, quy mô vốn nhỏ làm hạn chế rất nhiều khả năng mở rộng độ bao phủ của mạng lưới, mở rộng phân khúc khách hàng và mở rộng năng lực cũng như phạm vi cung cấp dịch vụ.

Ngoại trừ một vài công ty chứng khoán lớn nhất, hầu như các công ty chứng khoán nhỏ không thể tiếp cận được thị trường vốn để tăng vốn hoạt động. Việc tìm kiếm tài trợ vốn từ các tổ chức tín dụng và công ty tài chính cũng vô cùng khó khăn do tình hình khó khăn chung của thị trường chứng khoán.

Trước tình hình đó, trên cơ sở Đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012, trong suốt 4 năm vừa qua, UBCK đã nỗ lực triển khai hoạt động tái cấu trúc khối các công ty chứng khoán theo hướng: nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng khoán.

Trên cơ sở đó, từng bước thu hẹp số lượng các công ty chứng khoán; tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty chứng khoán; và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết. Việc thực hiện Đề án tái cấu trúc bước đầu đã được một số kết quả như sau:

Thứ nhất, nhằm duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính, cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện để các tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập, UBCK đã chấp thuận thực hiện hợp nhất cho 6 CTCK và đang tiếp tục xem xét hồ sơ hợp nhất của 2 CTCK khác.

Ngoài ra, một số CTCK đang bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, do không khắc phục được đã bị UBCK áp dụng các biện pháp mạnh hơn như đình chỉ hoạt động, chấm dứt hoạt động kinh doanh nhằm thu hồi giấy phép. Cho đến nay, số lượng các công ty chứng khoán đã được thu hẹp được khoảng 20% và có thể sẽ tiếp tục bị thu hẹp trong thời gian tới.

ảnh 4

Thứ hai, công tác quản trị công ty và quản trị rủi ro ở các công ty chứng khoán được kiện toàn và nâng cao dưới tác động của việc hoàn thiện khung pháp lý với sự ra đời của Thông tư 210 hướng dẫn thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán và Quyết định 105 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho CTCK đã góp phần áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế, chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh để hạn chế rủi ro, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán của các CTCK.

Thứ ba, các công ty chứng khoán đang dần phát triển một cách bền vững hơn, chú trọng nhiều hơn đến an toàn tài chính khi cơ quan quản lý tăng cường áp lực cưỡng chế thực thi tuân thủ các quy định về an toàn tài chính.

Thứ tư, UBCK đã và đang xây dựng các sản phẩm mới với mục tiêu tăng cường sự gắn kết giữa việc tái cấu trúc CTCK với tái cấu trúc cơ sở hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư (phát triển các quỹ mở, quỹ đầu tư bất động sản), cơ sở thị trường, mở ra các sản phẩm mới (coverd warrant, các sản phẩm ETF, các sản phẩm trái phiếu, các sản phẩm cơ cấu…), thị trường mới (thị trường chứng khoán phái sinh), tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong huy động vốn, hỗ trợ công tác cổ phần hóa, gắn kết cổ phần hóa với niêm yết, giao dịch trên TTCK có tổ chức theo Quyết định 51 của Chính phủ.

Thứ năm, trên cơ sở Nghị định 58/2012/NĐ-CP và Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định 58/2012/NĐ-CP, UBCK đã cấp phép cho 4 công ty chứng khoán do tổ chức nước ngoài sở hữu trên 49% vốn điều lệ.

Trên cơ sở các kết quả đã đạt được, nhằm mục tiêu tiếp tục thúc đẩy TTCK phát triển, đồng thời triển khai tái cấu trúc TTCK một cách hiệu quả, bảo đảm thị trường vận hành một cách ổn định, lành mạnh, không gây ra những xáo trộn lớn đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, UBCK sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm tiếp tục củng cố, phát triển và tái cấu trúc CTCK dựa trên các chỉ tiêu về an toàn vốn, rủi ro nội tại của CTCK.

Đồng thời, từ những thành công và tồn tại trong 16 năm hình thành và phát triển công ty chứng khoán vừa qua, chúng ta cần hướng tới việc xây dựng thế hệ Luật Chứng khoán thứ hai nhằm hoàn chỉnh mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán, các định chế trung gian trên thị trường chứng khoán, thúc đẩy thị trường chứng khoán ngày càng vững mạnh, minh bạch và hiệu quả. 

Theo Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán
Đặc san 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán

Mặc cho thị trường không ngừng bứt phá, vẫn còn hàng trăm cổ phiếu có giá "trà đá"

Thị trường chứng khoán  |   CafeF  |   2 giờ trước

Thống kê trên 2 sàn niêm yết (HoSE và HNX) hiện có 112 cổ phiếu có mức giá từ 5.000 đồng trở xuống, chiếm khoảng 1/5 số lượng cổ phiếu niêm yết trên TTCK. Mức giá của các cổ phiếu này chỉ tương đương gói snack, cọng hành, mớ rau, cốc trà đá hay thậm chí là… vé gửi xe máy.

Thị trường tài chính 24h: Chứng khoán bùng nổ

Thị trường chứng khoán  |   TNCK  |   16 giờ trước

(ĐTCK) Vn-Index bùng nổ; Quý III, ngân hàng hồ hởi báo lãi ngàn tỷ; Giật mình trích lập dự phòng đầu tư cổ phiếu; Nhà đầu tư Hàn Quốc sốt sắng rót vốn vào ngành tài chính Việt; Doanh nghiệp lỗ lên UPCoM: Kỳ vọng đổi vận; Chứng khoán Mỹ tạo động lực thị trường toàn cầu đi lên; Thương hiệu “Made in Japan” đang bị lung lay vì tai tiếng...là những thông tin đáng chú ý của thị trường trong 24h qua.

Khối ngoại sang tay nhau hơn 2.440 tỷ đồng cổ phiếu ACB trong phiên 17/10

Thị trường chứng khoán  |   TNCK  |   19 giờ trước

(ĐTCK) Sau phiên mua ròng mạnh hôm qua, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài đã cân bằng hơn trong phiên hôm nay. Trong đó, đáng chú ý khối này đã thực hiện giao dịch thỏa thuận khủng hơn 2.440 tỷ đồng cổ phiếu ACB, khiến giao dịch mua bán trên sàn HNX tăng đột biến.

EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 16,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 85,500
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 9,700
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 3,800
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,700
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,600
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,580
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
TOP CTCP Phân phối Top One 1,900
AAAI CTCP Bảo hiểm AAA 8,000
ALSC Công ty CP giao nhận và kho vận Hàng Không 70,000
AAM Công ty Cổ phần Thủy sản Mekong (MEKONGFISH) 10,500
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 33,700
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 24,800
ACL Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (CL - Fish Corp ) 8,740
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 8,850
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,600
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,800
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 50,500
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,700
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,550
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,710
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 30,500
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 21,350
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 17,500
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 28,650
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 76,000
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 10,500
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 56,200
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 32,400
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 19,000
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 15,400
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,950
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 35,000
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 74,200
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,970
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 27,000
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 20,000
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 18,100
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,500
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 28,000
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,500
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 213,500
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 19,600
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 27,300
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 1,900
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 53,500
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 11,200
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 22,700
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 34,100
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 35,500
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 112,700
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 5,000
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,440
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 16,350
DLG Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DUCLONG GIA LAI GROUP) 3,820
DMC Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco (DOMESCO ) 112,000
DPM Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí-CTCP (PVFCCo) 22,150
DPR Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú (DORUCO) 40,600
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 33,200
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,500
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 11,500
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 14,500
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 30,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,300
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,300
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,800
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 8,300
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,800
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 3,900
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,700
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 24,500
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 39,000
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 32,500
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,300
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 39,000
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,900
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 11,200
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 21,200
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 4,900
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 51,700
DAD Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Giáo dục Đà Nẵng (DEIDCO) 18,500
DBC Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam (DABACO) 26,900
DBT Công ty Cổ phần Dược phẩm Bến Tre (BEPHARCO) 16,000
DC2 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển - Xây dựng số 2 (DIC No 2) 11,700
DC4 Công ty Cổ phần DIC số 4 (DIC - No4) 11,500
DCS Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Châu (Dai Chau JSC) 2,300
DHT Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây (HATAPHAR) 72,500
DL1 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Dịch vụ Công trình Công cộng Đức Long Gia Lai (DLGL INDPS) 25,100
DNP Công ty Cổ phần Nhựa Đồng Nai (DONAPLAST ) 23,500
DNY Công ty Cổ phần Thép Dana - Ý (DNY) 7,300
DST Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Nam Định (NABECO) 32,500
DXP Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá (DoanXa Port) 11,200
DZM Công ty Cổ phần Chế tạo máy Dzĩ An (DZIMA) 5,600
EBS Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại Tp.Hà Nội (Haebco JSC) 10,000
EID Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển giáo dục Hà Nội (HEID) 15,000
HAD Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương (HAD) 42,500
HAT Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội (Habeco Trading) 41,500
HBS Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình (HBS) 2,600
HDA Công ty Cổ phần Hãng sơn Đông Á (HSDA) 9,700
HEV Công ty Cổ phần Sách Đại học - Dạy nghề (HEVOBCO JSC) 12,200
HHC Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà (HAIHACO) 55,900
HHG Công ty Cổ phần Hoàng Hà (Hoang Ha JSC) 7,400
HOM Công ty cổ phần Xi măng VICEM Hoàng Mai (HOM) 4,300
HPC Công ty Cổ phần Chứng khoán Hải Phòng (HASECO) 3,000
HUT Công ty Cổ phần Tasco (HUD -TASCO) 11,800
ICG Công ty Cổ phần Xây dựng Sông Hồng (INCOMEX) 6,800
IDJ Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Quốc tế và Phát triển Doanh nghiệp IDJ (IDJ Financial) 3,200
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 6,100
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 17,900
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 20,200
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 15,500
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 34,600
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,500
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 6,500
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 46,500
MTH Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị Hà Đông 14,900
ND2 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển điện Miền Bắc 2 (NEDI2) 17,100
NHN Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Nam Hà Nội (HANOI City .,JSC) 30,000
PSB Công ty cổ phần Đầu tư Dầu khí Sao Mai – Bến Đình (PVSB) 5,300
PSL Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Sơn (PHU SON LIVESTOCK COMPANY) 54,900
PSP Công ty Cổ phần Cảng dịch vụ Dầu khí Đình Vũ (PTSC Đình Vũ) 7,600
SBS Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBS) 2,100
SD3 Công ty Cổ phần Sông Đà 3 (Song Da 3,JSC) 4,300
SDV Công ty Cổ phần Dịch vụ Sonadezi (SDV) 13,500
SHV Công ty Cổ phần Hải Việt (HAVICO) 12,000
SJM Công ty Cổ phần Sông Đà 19 (Song Da 19 JSC) 1,000
SMB Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Miền Trung (SMB) 29,200
STV Công ty cổ phần Chế tác Đá Việt Nam (STONE VIETNAM) 16,600
SWC Tổng Công ty Cổ phần Đường Sông Miền Nam (SOWATCO) 13,000
TDS Công ty cổ phần Thép Thủ Đức (VIKIMCO) 11,100
TIS Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) 11,200
TLT Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long (TTC) 18,000
TNB Công ty Cổ phần Thép Nhà Bè (TNB) 6,400
TTR Công ty Cổ phần Du lịch Thương mại và Đầu tư (Tracotour) 29,300
VCA Công ty Cổ phần Thép Biên Hòa (VICASA) 12,200
VCT Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Vinaconex 3,300
VHF Công ty Cổ phần Xây dựng và Chế biến lương thực Vĩnh Hà (VINH HA FOOD JSC) 17,900
VHH Công ty cổ phần Đầu tư Kinh doanh nhà Thành Đạt 2,300
VKD Công ty Cổ phần Nước khoáng Khánh Hòa (VIKODA) 103,900
VTA Công ty Cổ phần Vitaly (VITALY JS. Co ) 8,500
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 13,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 9,700
NSP Công ty Cổ phần Nhựa Sam Phú (SPC) 7,400
REM Công ty cổ phần Tu bổ di tích Trung ương - Vinaremon (VINAREMON) 2,600
SDJ Công ty Cổ phần Sông Đà 25 (Song Da 25, JSC) 9,500
BVG Công ty Cổ phần Thép Bắc Việt (BACVIET STEEL.,JSC) 1,500
PFL Công ty cổ phần Dầu khí Đông Đô (PVC-Dong Do .,JSC) 1,600
VNI Công ty cổ phần Đầu tư Bất động sản Việt Nam (VinaLand Invest Corp) 6,500
VPC Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Năng lượng Việt Nam (V- Power) 1,100
PIC CTCP Đầu tư Điện lực 3 15,000
Xem thêm...
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2016 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.