Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +3.96 (+0.37%)
  • HNX-Index 126.30 +0.16 (+0.13%)
  • UPCOM-Index 57.06 -0.08 (-0.15%)
Thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán: Khát vọng nâng tầm
Đăng 12/01/2017 | 16:00 GMT+7  |   TNCK
(ĐTCK) So với giai đoạn bùng nổ, số lượng công ty chứng khoán (CTCK) đã được thu hẹp  khoảng 20% và có thể sẽ tiếp tục bị thu hẹp trong thời gian tới.

Từ khi khai trương hoạt động của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (ngày 20/7/2000) đến nay, chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc cả về số lượng, quy mô cũng như chất lượng hoạt động của các công ty chứng khoán.

Từ chỗ chỉ có 7 công ty chứng khoán với quy mô vốn điều lệ thấp nhất là 6 tỷ đồng và cao nhất là 43 tỷ đồng, có những lúc thị trường chứng khoán Việt Nam có 105 công ty chứng khoán hoạt động, cung cấp dịch vụ, trong đó có công ty có quy mô vốn điều lệ trên 4.200 tỷ đồng (tăng 100 lần so với thời gian đầu hoạt động).

Sau 3 năm tái cấu trúc các công ty chứng khoán, tính tới thời điểm hiện nay, có khoảng trên 80 công ty chứng khoán còn hoạt động.

Các công ty chứng khoán đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường sơ cấp, giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài; tư vấn hỗ trợ phát hành và bảo lãnh phát hành cho các công  ty niêm yết, công  ty đại chúng, giá trị bảo lãnh phát hành mà các công ty chứng khoán thực hiện lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.

ảnh 1

Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tư vấn, môi giới cho nhà đầu tư trong việc ra quyết định đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở tăng cường đầu tư mạnh hệ thống công nghệ thông tin, cùng với việc mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ, tăng cường chất lượng tư vấn và các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, các công ty chứng khoán liên tục thu hút, mở rộng lượng nhà đầu tư tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán: lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2000, toàn thị trường có gần 8.000 nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán, đến nay, con số này trên 1,4 triệu tài khoản; trong đó có hơn 17.000 tài khoản nhà đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, đã có 20 công ty chứng khoán thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhiều đối tác nước ngoài của công ty chứng khoán là những tên tuổi lớn trên thị trường chứng khoán quốc tế như Morgan Stanley, Citibank, Nikko Cordial, SMB Securities, Woori Bank, Korea Investment and Securities, Mirea Securities, CIMB, Kenaga.

Một số công ty chứng khoán lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ đã góp phần hoàn thiện cấu trúc quản trị công ty, phát hiện, ngăn chặn được các rủi ro trong hoạt động cũng nhưng rủi ro đầu tư nhằm đảm bảo hoạt động lành mạnh, bảo toàn vốn phát triển.

Cùng với sự lớn mạnh về số lượng và quy mô của các công ty chứng khoán, các văn bản pháp quy liên quan đến mảng hoạt động của các công ty chứng khoán ngày càng hoàn thiện. Quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán đã trải qua 7 lần ban hành mới và sửa đổi, bổ sung. Theo đó, các hướng dẫn về tổ chức, quản trị công ty chứng khoán, hướng dẫn về nghiệp vụ kinh doanh ngày càng được đổi mới, mở rộng và cập nhật phù hợp với tình hình mới và thông lệ quốc tế, có ban hành Điều lệ mẫu để các công ty chứng khoán thực hiện.

Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã thực hiện và triển khai áp dụng thông lệ quốc tế mới nhất về quản lý an toàn vốn đối với công ty chứng khoán bằng việc ban hành Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính. Thông tư này tiếp tục được sửa đổi bằng Thông tư số 165/2012/TT-BTC ngày 9/10/2012.

ảnh 2
 

Để hướng dẫn công ty chứng khoán thiết lập hệ thống quản trị rủi ro, ngày 26/2/2013, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBCK hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro công ty chứng khoán. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp cho công ty chứng khoán có thể thiết lập và đi vào vận hành tốt hệ thống quản trị rủi ro.

Ngày 9/10/2013, Chủ tịch UBCK cũng ban hành Quyết định số 617/QĐ-UBCK về việc ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán (theo chuẩn CAMEL). Mục đích cốt lõi của Quy chế xếp loại công ty chứng khoán là đóng vai trò như một hệ thống cảnh báo sớm, giúp cơ quan quản lý sớm nhận diện các công ty chứng khoán có nhiều nguy cơ rơi vào diện vi phạm chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định tại Thông tư 226 hoặc có nhiều nguy cơ sụt giảm quy mô vốn chủ sở hữu so với vốn điều lệ ban đầu.

Trên cơ sở xếp loại các công ty chứng khoán thành nhiều nhóm theo kết quả lượng hóa rủi ro mất vốn và không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính, UBCK có thêm một kênh thông tin để hướng nguồn lực vào xử lý các công ty chứng khoán có nguy cơ mất an toàn tài chính. Hơn nữa, kết quả chấm điểm xếp loại được tổng hợp từ các yếu tố như chất lượng vốn, chất lượng tài sản... là các yếu tố định lượng hoặc từ các yếu tố định tính như chất lượng quản trị có thể là những chỉ báo cụ thể về nội dung kiểm tra, giám sát và xử lý cho cơ quan quản lý.

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, công tác thanh kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các công ty chứng khoán cũng được UBCK tăng cường thực hiện. Hàng năm, UBCK thực hiện thanh kiểm tra định kỳ từ 10-20 công ty chứng khoán.

Ngoài ra, Ủy ban còn tổ chức các đoàn kiểm tra bất thường, đặc biệt trong giai đoạn thị trường có những biến động bất thường hoặc có những tin đồn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro hệ thống. Các sai phạm được phát hiện sau các cuộc thanh tra, kiểm tra đều được xử lý nghiêm, tạo tính răn đe cho thị trường.

Qua 16 năm phát triển, khối công ty chứng khoán đã có sự phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng, cùng với sự tham gia đầu tư của nhiều đối tượng cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc số lượng các công ty chứng khoán tăng quá nhanh dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt giữa các công ty chứng khoán, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào khoảng chưa tới 20 công ty chứng khoán và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do gần 70 công ty chứng khoán còn lại nắm giữ). Do đó, đã có những rủi ro khi thị trường biến động mạnh.

Sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung đòi hỏi các công ty chứng khoán phải đi vào chiều sâu nếu muốn tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh đó, khối công ty chứng khoán bộc lộ sự phân hóa nội khối. Chỉ có hơn 10% số công ty chứng khoán có mức vốn điều lệ lớn hơn 500 tỷ đồng.

ảnh 3

Các công ty chứng khoán còn lại, do quy mô vốn nhỏ, gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư hiệu quả thông qua cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành quy mô lớn trong các đợt cổ phần hóa của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, quy mô vốn nhỏ làm hạn chế rất nhiều khả năng mở rộng độ bao phủ của mạng lưới, mở rộng phân khúc khách hàng và mở rộng năng lực cũng như phạm vi cung cấp dịch vụ.

Ngoại trừ một vài công ty chứng khoán lớn nhất, hầu như các công ty chứng khoán nhỏ không thể tiếp cận được thị trường vốn để tăng vốn hoạt động. Việc tìm kiếm tài trợ vốn từ các tổ chức tín dụng và công ty tài chính cũng vô cùng khó khăn do tình hình khó khăn chung của thị trường chứng khoán.

Trước tình hình đó, trên cơ sở Đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012, trong suốt 4 năm vừa qua, UBCK đã nỗ lực triển khai hoạt động tái cấu trúc khối các công ty chứng khoán theo hướng: nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng khoán.

Trên cơ sở đó, từng bước thu hẹp số lượng các công ty chứng khoán; tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty chứng khoán; và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết. Việc thực hiện Đề án tái cấu trúc bước đầu đã được một số kết quả như sau:

Thứ nhất, nhằm duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính, cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện để các tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập, UBCK đã chấp thuận thực hiện hợp nhất cho 6 CTCK và đang tiếp tục xem xét hồ sơ hợp nhất của 2 CTCK khác.

Ngoài ra, một số CTCK đang bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, do không khắc phục được đã bị UBCK áp dụng các biện pháp mạnh hơn như đình chỉ hoạt động, chấm dứt hoạt động kinh doanh nhằm thu hồi giấy phép. Cho đến nay, số lượng các công ty chứng khoán đã được thu hẹp được khoảng 20% và có thể sẽ tiếp tục bị thu hẹp trong thời gian tới.

ảnh 4

Thứ hai, công tác quản trị công ty và quản trị rủi ro ở các công ty chứng khoán được kiện toàn và nâng cao dưới tác động của việc hoàn thiện khung pháp lý với sự ra đời của Thông tư 210 hướng dẫn thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán và Quyết định 105 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho CTCK đã góp phần áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế, chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh để hạn chế rủi ro, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán của các CTCK.

Thứ ba, các công ty chứng khoán đang dần phát triển một cách bền vững hơn, chú trọng nhiều hơn đến an toàn tài chính khi cơ quan quản lý tăng cường áp lực cưỡng chế thực thi tuân thủ các quy định về an toàn tài chính.

Thứ tư, UBCK đã và đang xây dựng các sản phẩm mới với mục tiêu tăng cường sự gắn kết giữa việc tái cấu trúc CTCK với tái cấu trúc cơ sở hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư (phát triển các quỹ mở, quỹ đầu tư bất động sản), cơ sở thị trường, mở ra các sản phẩm mới (coverd warrant, các sản phẩm ETF, các sản phẩm trái phiếu, các sản phẩm cơ cấu…), thị trường mới (thị trường chứng khoán phái sinh), tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong huy động vốn, hỗ trợ công tác cổ phần hóa, gắn kết cổ phần hóa với niêm yết, giao dịch trên TTCK có tổ chức theo Quyết định 51 của Chính phủ.

Thứ năm, trên cơ sở Nghị định 58/2012/NĐ-CP và Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định 58/2012/NĐ-CP, UBCK đã cấp phép cho 4 công ty chứng khoán do tổ chức nước ngoài sở hữu trên 49% vốn điều lệ.

Trên cơ sở các kết quả đã đạt được, nhằm mục tiêu tiếp tục thúc đẩy TTCK phát triển, đồng thời triển khai tái cấu trúc TTCK một cách hiệu quả, bảo đảm thị trường vận hành một cách ổn định, lành mạnh, không gây ra những xáo trộn lớn đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, UBCK sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm tiếp tục củng cố, phát triển và tái cấu trúc CTCK dựa trên các chỉ tiêu về an toàn vốn, rủi ro nội tại của CTCK.

Đồng thời, từ những thành công và tồn tại trong 16 năm hình thành và phát triển công ty chứng khoán vừa qua, chúng ta cần hướng tới việc xây dựng thế hệ Luật Chứng khoán thứ hai nhằm hoàn chỉnh mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán, các định chế trung gian trên thị trường chứng khoán, thúc đẩy thị trường chứng khoán ngày càng vững mạnh, minh bạch và hiệu quả. 

Theo Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán
Đặc san 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán

ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
BGM CTCP Khai Thác & Chế Biến Khoáng Sản Bắc Giang 20,500
BHS Công ty TNHH MTV Đường TTC Biên Hòa - Đồng Nai 2,000
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 17,700
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi Măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO TCT Cổ Phần Bưu Chính Viettel 69,917
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,500
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 36,250
ACC CTCP Bê Tông Becamex 19,700
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 9,300
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 5,700
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 9,450
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 4,630
ANV CTCP Nam Việt 24,800
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 32,400
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 14,500
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 7,800
BBC CTCP Bibica 72,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 6,420
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 31,000
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 38,000
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 13,550
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 29,000
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 55,000
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,000
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 12,300
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 37,500
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 100,000
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 33,500
C47 CTCP Xây Dựng 47 13,700
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 4,010
CDC CTCP Chương Dương 16,400
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 32,800
CLC CTCP Cát Lợi 33,900
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 3,600
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,900
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 17,650
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 27,800
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 9,630
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 23,000
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 5,000
CNG CTCP CNG Việt Nam 28,000
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 59,700
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 13,600
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 137,500
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 30,350
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 33,500
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 77,000
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 7,770
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 18,000
DHA CTCP Hóa An 28,400
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 43,900
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 44,400
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 17,500
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 13,700
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 4,700
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 25,000
AME CTCP Alphanam E&C 12,400
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 15,700
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 26,100
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 9,800
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 3,100
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 30,700
ASA CTCP Liên Doanh Sana WMT 2,800
B82 CTCP 482 2,200
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 13,300
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 6,500
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 3,500
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 30,200
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 4,400
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 900
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 8,800
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 19,500
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 11,000
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,900
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 19,400
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,800
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 10,500
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 27,800
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 34,100
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 28,800
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 17,400
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 23,500
CKV CTCP COKYVINA 22,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,600
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,200
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,000
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 41,500
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 22,500
CT6 CTCP Công Trình 6 5,500
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 31,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,900
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 28,000
CVN CTCP Vinam 7,400
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 10,500
D11 CTCP Địa Ốc 11 15,500
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 17,300
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,300
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 20,500
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 14,500
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,600
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 79,800
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,500
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 5,200
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 1,000
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 28,100
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 400
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 2,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,500
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 24,900
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 5,700
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 26,400
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 24,100
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 61,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 19,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 14,400
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 700
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,300
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 11,500
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 6,700
CZC CTCP Than Miền Trung 9,400
DAP CTCP Đông Á 17,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 4,000
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 29,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 14,000
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 17,300
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 8,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 13,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,300
DPP CTCP Dược Đồng Nai 14,900
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 12,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 15,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 8,700
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,700
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 14,200
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 2,500
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 600
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 33,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,500
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 3,500
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 10,900
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 3,900
HDM CTCP Dệt May Huế 26,000
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.