Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 966.06 +2.50 (+0.26%)
  • HNX-Index 102.36 -0.14 (-0.13%)
  • UPCOM-Index 55.79 -0.14 (-0.25%)
Tài chính ngân hàng
Lãnh đạo các ngân hàng dự báo thế nào về lãi suất, tỷ giá thời gian tới?
Đăng 16/07/2019 | 22:50 GMT+7  |   CafeF
Các chuyên gia tài chính hầu hết cho rằng lãi suất sẽ duy trì ổn định, rất khó giảm, còn nếu có tăng cũng chỉ ở phần lãi suất huy động kỳ hạn trung và dài, còn tỷ giá sẽ chịu áp lực nhiều hơn. Còn ý kiến của lãnh đạo các ngân hàng thì sao?


Tỷ giá đang có chuỗi ngày biến động trái với dự đoán của nhiều người, đó là USD liên tục giảm và hiện cặp tỷ giá USD/VND trong ngân hàng lẫn ngoài thị trường tự do đã về mức thấp hơn thời điểm cuối năm 2018 (giảm 0,11%). Nhờ nguồn cung dồi dào, Ngân hàng Nhà nước đã bắt tay mua vào ngoại tệ từ tuần này, một phần để tăng nguồn dự trữ ngoại hối, phần khác nhằm chặn đà giảm của tỷ giá. 

Lãi suất trong khi đó "nổi sóng" trở lại khi không chỉ có nhà băng nhỏ mà có hàng loạt các ngân hàng lớn nhập cuộc tăng lãi suất với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên nhằm gia tăng nguồn vốn phục vụ mùa kinh doanh cuối năm. 

Dẫu vậy dự báo xu hướng từ nay đến hết năm 2019, các chuyên gia tài chính hầu hết vẫn cho rằng tỷ giá vẫn chịu áp lực tăng trong khi lãi suất sẽ duy trì ổn định đến tăng nhẹ chứ không thể giảm. Còn ý kiến của các ngân hàng thì sao?

Tổng giám đốc một ngân hàng: Có áp lực tăng lãi suất, còn tỷ giá thì không

Lãi suất huy động về cơ bản sẽ tiếp tục ổn định, nhưng các kỳ hạn dài từ 13 tháng trở lên sẽ tăng nhẹ do các ngân hàng phải tăng nguồn vốn nhằm đáp ứng yêu cầu của Basel II cũng như lộ trình của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn.

Lãi suất cho vay cũng sẽ biến động theo lãi suất huy động tức là tăng nhẹ ở kỳ hạn dài. 

Tuy nhiên do NHNN kiểm soát room tín dụng nhằm đảm bảo toàn hệ thống tăng trưởng ở mức 14% theo định hướng nên cả lãi suất huy động lẫn cho vay của các ngân hàng cũng không thể tăng quá mạnh. Các ngân hàng sẽ lựa chọn phân khúc khách hàng của họ để tập trung phát triển hơn là chỉ nhìn vào lãi suất.

Về tỷ giá, từ đầu năm tới nay NHNN đã tăng tỷ giá trung tâm 1% và các ngân hàng hơn 5 tháng đầu năm cũng tăng giá niêm yết USD nhưng đó là do áp lực chung của thị trường thế giới cùng với diễn biến trong quan hệ cung cầu. Song vài tuần nay, nguồn ngoại tệ đang dồi dào, VND đã mạnh trở lại và các ngân hàng còn đang niêm yết thấp hơn cả cuối năm 2018. 

Với nguồn vốn FDI và kiều hối về nhiều sẽ giúp tỷ giá tiếp tục ổn định trong thời gian tới, bất chấp việc Trung Quốc vẫn phá giá đồng Nhân dân tệ. Hơn nữa, các ngân hàng đều có kết quả kinh doanh 6 tháng tốt, lãi nhiều, nên thời gian tới sẽ tăng cường mua trái phiếu Chính phủ, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ.

Bà Nguyễn Thị Hương – Phó Tổng giám đốc ABBank: Cả tỷ giá và lãi suất sẽ được kiểm soát ổn định

Những yếu tố hỗ trợ cho sự ổn định của tỷ giá bao gồm:

Một là, khả năng FED cắt tiếp tục giảm lãi suất trong năm nay là rất cao, số liệu được công bố trong các nghiên cứu cho thấy xác suất này lên đến trên 90%. Yếu tố này sẽ làm giảm bớt sức ép mất giá của các đồng tiền khác, trong đó có các đồng tiền Châu Á và VND đối với USD.

Hai là, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ tạo sự dịch chuyển dòng vốn từ Trung Quốc sang các quốc gia khác, trong đó Việt Nam – được đánh giá là một thị trường đầu tư an toàn và hiệu quả. Thực tế 6 tháng đầu năm 2019 dòng góp vốn, mua cổ phần của NĐT nước ngoài tăng mạnh tới 98% so với cùng kỳ năm 2018, tổng vốn FDI đã giải ngân cũng tăng 8,7%.

Bà Nguyễn Thị Hương

Ba là, cán cân thương mại đang dần cân bằng trở lại, sau 2 tháng thâm hụt lớn, cán cân thương mại 6 tháng thặng dư 2,03 tỷ USD và lũy kế 6 tháng thặng dư 1,6 tỷ USD. Tăng trưởng xuất khẩu sang các thị trường chính (ngoại trừ Trung Quốc và Hồng Kong) được duy trì ở mức ổn định đang và tiếp tục hỗ trợ cho nguồn cung ngoại tệ trong nước.

Bốn là, quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang ở mức cao sẽ là cơ sở để NHNN có thể chủ động trong việc điều tiết và ổn định tỷ giá.

Về lãi suất, lãi suất khó giảm nhưng cũng không bị áp lực tăng. 

Lãi suất khó giảm do lãi suất tiền đồng cần đảm bảo sự tương quan hợp lý với lãi suất USD nhằm kiểm soát, ổn định dòng vốn, hạn chế tác động của các cú sốc bên ngoài. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần đảm bảo đủ nguồn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh phải cạnh tranh với các kênh đầu từ khác đang phát triển nhanh và nhu cầu gia tăng số dư huy động, đặc biệt nguồn huy động trung, dài hạn để đáp ứng lộ trình tiếp tục giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 40% hiện nay xuống 30%. Bên cạnh đó, các NHTM hiện đều ưu tiên tập trung vào việc mở rộng nguồn thu từ dịch vụ, thay đổi cấu trúc khách hàng, quản lý chi phí hiệu quả… thay vì tăng lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, lãi suất cũng không chịu áp lực tăng do lạm phát của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp, CPI bình quân 6 tháng đầu năm tăng 2,64%, mức thấp nhất trong 03 năm gần đây và lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm tăng 1,87% so với bình quân năm trước, do đó không gây áp lực đến các mức lãi suất điều hành; Tăng trưởng GDP đang chững lại nên lãi suất cần phải được kiểm soát ổn định để tạo điều thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ông Hoàng Minh Hoàn - Phó TGĐ Phụ trách Khối Quản trị Tài chính và Nguồn vốn Ngân hàng SCB: Lãi suất cho vay sẽ tăng nhẹ ở các ngành nghề rủi ro

Ông Hoàng Minh Hoàn

Lãi suất huy động sẽ ổn định hoặc có thể tăng nhẹ cục bộ tại một số ngân hàng do yếu tố mùa vụ cuối năm. Tuy nhiên, về cơ bản lạm phát ổn định, thanh khoản hệ thống dồi dào từ đầu năm đến nay nên khả năng lãi suất huy động tăng sẽ không cao, đặc biệt là trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi nhanh hơn tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm. Lãi suất cho vay theo đó cũng sẽ tăng nhẹ, đặc biệt là với một số ngành nghề kinh doanh có hệ số rủi ro cao và/hoặc giảm nhẹ lãi suất cho vay đối với các ngành còn lại.

 Về tỷ giá cuối năm 2019 thì nhiều khả năng sẽ tăng giảm trong biên độ hẹp +-1%. Nguyên nhân do tỷ giá được NHNN điều hành chủ động, linh hoạt phù hợp với diễn biến của tỷ giá đồng USD so với các loại tiền tệ và đảm bảo mục tiêu ổn định giá trị đồng Việt Nam. Thực tế cho thấy trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá trung tâm cũng chỉ tăng nhẹ 1% theo xu hướng chung của sự tăng giá đồng USD so với các đồng tiền khác trong khu vực, đặc biệt là đồng nhân dân tệ.

Chuyên gia dự báo thế nào về lãi suất, tỷ giá từ nay đến cuối năm?



Tài chính ngân hàng

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 13,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 2,100
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,900
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 32,550
ACC CTCP Bê Tông Becamex 19,300
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 22,000
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,650
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 9,800
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,580
ANV CTCP Nam Việt 22,000
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 20,100
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 6,350
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,950
BBC CTCP Bibica 62,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 6,780
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 24,250
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 40,000
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,450
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 25,500
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 47,000
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,250
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 12,200
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 34,600
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 65,700
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 19,500
C47 CTCP Xây Dựng 47 11,200
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,200
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 7,200
CDC CTCP Chương Dương 16,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 23,100
CLC CTCP Cát Lợi 32,500
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 3,390
CLL CTCP Cảng Cát Lái 24,900
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 24,300
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 37,500
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 9,500
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 11,400
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 15,500
CNG CTCP CNG Việt Nam 23,000
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 52,800
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 14,400
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 64,400
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 20,150
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 22,300
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 75,600
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 6,750
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 25,400
DHA CTCP Hóa An 30,900
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 43,550
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 22,900
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 15,800
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 11,900
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,500
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 17,500
AME CTCP Alphanam E&C 6,500
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 23,400
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 11,100
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,000
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,000
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 38,500
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 1,500
B82 CTCP 482 400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,600
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,100
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 9,900
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 2,700
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,000
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,300
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 13,800
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,200
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 45,500
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,500
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 10,000
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 11,600
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 8,900
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 27,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 30,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 27,800
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 8,900
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 21,000
CKV CTCP COKYVINA 16,900
CMC CTCP Đầu Tư CMC 9,000
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,400
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 3,500
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 20,600
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 30,000
CT6 CTCP Công Trình 6 4,100
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 33,900
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,400
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 11,400
CVN CTCP Vinam 12,000
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,700
D11 CTCP Địa Ốc 11 18,900
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,500
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,500
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 23,250
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 10,700
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 600
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 20,100
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 3,700
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 9,600
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,100
HDO CTCP Hưng Đạo Container 500
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 24,600
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 400
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,600
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,000
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 4,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 26,000
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 4,100
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 30,800
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 26,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 16,100
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 15,100
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,500
BVN CTCP Bông Việt Nam 12,000
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 5,200
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 300
CFC CTCP Cafico Việt Nam 27,700
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,200
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 8,100
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 30,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 7,900
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 23,600
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 9,500
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 23,200
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 12,700
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 16,900
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 18,800
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 9,600
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 21,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,200
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 32,500
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 5,400
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,900
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 34,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 7,100
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 10,400
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 18,900
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 6,000
HDM CTCP Dệt May Huế 17,500
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2019 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp