Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

VN-Index :   -1.55
805.58   (-0.19%)
GTGD :   2,777.7 tỷ VNĐ
HNX-Index :   +0.82
107.34   (+0.77%)
GTGD :   637.9 tỷ VNĐ
UPCOM-Index :   -0.12
54.43   (-0.22%)
GTGD :   114.1 tỷ VNĐ
VN30-Index :   +0.19
789.89   (+0.02%)
GTGD :   1,398.1 tỷ VNĐ
HNX30-Index :   +1.22
196.88   (+0.63%)
GTGD :   217.1 tỷ VNĐ
Thị trường chứng khoán
Mở cửa TTCK phái sinh: Nâng tầm chứng khoán Việt
Đăng 11/08/2017 | 18:00 GMT+7  |   TNCK
(ĐTCK) Chứng khoán phái sinh là sản phẩm bậc cao của thị trường tài chính. Thị trường chứng khoán (TTCK) phái sinh khai trương hoạt động ngày 10/8/2017 đã đánh dấu bước phát triển mới, theo chiều sâu của một thị trường tài chính hiện đại. Báo Đầu tư Chứng khoán đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch Hội đồng quản trị Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). 

Theo ông, sự ra đời của TTCK phái sinh ghi dấu mốc như thế nào đối với lịch sử phát triển của TTCK Việt Nam?

Sau 17 năm đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh, nhưng cấu trúc thị trường chưa hoàn thiện khi chỉ có các sản phẩm là cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu, đây đều là các công cụ tạo lợi nhuận.

Quy mô thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện đạt trên 59% GDP, quy mô thị trường trái phiếu (bao gồm trái phiếu doanh nghiệp) đạt 36,9% GDP. Trong bối cảnh nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc tế liên tục trải qua những cuộc khủng hoảng lớn nhỏ, thì những con số trên thể hiện sự phát triển lành mạnh của TTCK Việt Nam trong gần hai thập qua.

Tuy nhiên, nếu so với tiềm năng và nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam, trong tương quan so sánh quá trình phát triển TTCK ở các nước trong khu vực và thế giới, thì quy mô trên có thể mở rộng nhiều hơn nữa. Vấn đề ở chỗ, nếu như cấu trúc của thị trường chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ và đầy đủ, thì khả năng thực hiện các giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của thị trường sẽ còn gặp nhiều thách thức.

TTCK phái sinh là mảnh ghép quan trọng. Sự ra đời của thị trường này góp phần tạo ra bức tranh hoàn thiện hơn cho TTCK, trong đó có cả hai mảng: thị trường tạo lập giá trị và thị trường bảo vệ giá trị.

ảnh 1
Ông Nguyễn Thành Long 
Ở cấp độ tư duy chiến lược, cho ra đời TTCK phái sinh đồng nghĩa với việc nền kinh tế, các nhà đầu tư, các thành viên thị trường chấp nhận các nguyên tắc của thị trường.

Theo đó, chúng ta sẽ sử dụng các công cụ trên thị trường tài chính, đặc biệt trên thị trường phái sinh, để biến những thách thức (rủi ro) trên thị trường cơ sở hoặc trong các hoạt động kinh doanh, thương mại trở thành những cơ hội.

Điều đó cũng có nghĩa, chúng ta đang tạo ra những cơ sở nền tảng để thúc đẩy quá trình thị trường hóa nền kinh tế Việt Nam. Tiến tới mọi sản phẩm, dịch vụ đều có thể được giao dịch tự do theo các nguyên tắc cung cầu của thị trường thay vì kiểm soát, điều hành giá cả bằng các biện pháp hành chính.

Nếu như chưa có thị trường phái sinh, chưa có các công cụ hấp thụ rủi ro biến động giá, thì việc thị trường hóa các sản phẩm, dịch vụ còn gặp nhiều thách thức. 

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc ra đời TTCK phái sinh là bước đột phá, giúp củng cố vị thế của TTCK Việt Nam trong cộng đồng đầu tư quốc tế, góp phần giúp thị trường tài chính Việt Nam tích hợp và hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính quốc tế, từ đó gián tiếp cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt Nam trong tương quan so sánh với sự cạnh tranh trong khu vực hiện nay.

Về lâu dài, theo thông lệ quốc tế, TTCK phái sinh sẽ tiếp tục được phát triển với nhiều sản phẩm khác, bắt đầu từ chứng khoán phái sinh dựa trên các sản phẩm tài chính, tới chứng khoán phái sinh dựa trên các sản phẩm hàng hóa (phi tài chính).

Sự vận động này mang tính quy luật khách quan, khi mà nền kinh tế được vận hành theo nguyên tắc thị trường và giá cả các hàng hóa được điều chỉnh bởi thị trường. Điều đó đồng nghĩa với việc phải có các công cụ hấp thụ những biến động do thị trường trong nước và quốc tế tạo ra, đó chính là vai trò và chức năng chủ yếu của TTCK phái sinh.

Đưa TTCK phái sinh vào vận hành mang lại những giá trị và ý nghĩa gì trong việc hoàn thiện cấu trúc và hiện đại hóa TTCK, thưa ông?

Thứ nhất là hình thành một phân mảng mới của TTCK, giúp hoàn thiện cấu trúc tổ chức của thị trường. Việc hoàn thiện cấu trúc thị trường giúp bổ sung chức năng cho thị trường tài chính nói chung, TTCK nói riêng.

Cụ thể, ngoài chức năng huy động và phân phối nguồn vốn theo tín hiệu thị trường, thì nay TTCK có thêm chức năng phân tán và phòng ngừa rủi ro cho nền kinh tế. Việc có thêm chức năng này không những giúp thị trường tài chính hoạt động ổn định và phát triển bền vững hơn, mà còn giúp cho nền kinh tế thích ứng tốt hơn với những cú sốc trong và ngoài nước trong bối cảnh hội nhập.

Thứ hai, TTCK phái sinh ra đời giúp nhà đầu tư có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro, yên tâm hơn trong việc bỏ vốn để đầu tư vào TTCK, thời gian đầu tư kéo dài hơn. Mức độ biến động của TTCK sẽ ít hơn, hoạt động phát hành trên TTCK để huy động vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế sẽ ổn định hơn.

TTCK phái sinh thực chất là thị trường phân tán và phòng ngừa rủi ro, giúp người tham gia thị trường bảo vệ được lợi nhuận trong quá trình đầu tư, sản xuất - kinh doanh.

Thứ ba, việc đa dạng hóa sản phẩm trên TTCK, đặc biệt các sản phẩm giúp phòng ngừa rủi ro còn thu hút thêm và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong trung và dài hạn, giúp TTCK thanh khoản hơn, từ đó cải thiện bức tranh của TTCK, hệ thống tài chính và của cả nền kinh tế, cải thiện định mức tín nhiệm quốc gia, hỗ trợ hoạt động huy động vốn và tiết giảm chi phi huy động vốn của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Sự ra đời TTCK phái sinh tập trung đầu tiên tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao vị thế của TTCK Việt Nam trong khu vực và quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập trong lĩnh vực tài chính, kinh tế.

Thứ tư, TTCK phái sinh là giải pháp thúc đẩy toàn diện quá trình tái cấu trúc TTCK. Theo đó, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư theo hướng gia tăng sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức, các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ hiểu biết về chứng khoán phái sinh.

Từ đó, giúp TTCK vận hành ổn định, an toàn và bền vững hơn, tránh được các biến động phi thị trường do hoạt động của các nhà đầu tư nhỏ lẻ thực hiện theo phong trào, theo tâm lý đám đông. Đồng thời, tác động tích cực đến tiến trình tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Đây được coi là giải pháp tiếp theo để tiếp tục phân loại, hạn chế hoạt động kinh doanh chứng khoán của các tổ chức kinh doanh chứng khoán yếu kém về năng lực tài chính, từ đó đào thải dần các tổ chức này bằng các nguyên tắc và quy luật của thị trường; tạo tiền đề cho sự ra đời và vận hành của Trung tâm thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh theo mô hình Đối tác bù trừ trung tâm (CCP).

Thứ năm, TTCK phái sinh ra đời đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước. Đã từng có thời gian, một số tổ chức, cá nhân tự ý triển khai các sản phẩm phái sinh được giao kết dưới hình thức thỏa thuận dân sự, đặc biệt là các giao dịch trạng thái tài khoản vàng, mang tính chất “lách luật”. Điều này tiềm ẩn nhiều hệ lụy.

Trong bối cảnh hội nhập và tự do hóa nền kinh tế theo tín hiệu thị trường, thì một thực tế khách quan là chúng ta phải xây dựng hệ thống quy định pháp lý và cho ra đời TTCK phái sinh để quản lý theo các thông lệ quốc tế tốt nhất, đảm bảo trật tự thị trường, tính công bằng, minh bạch và hướng tới lợi ích của nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Tuy nhiên, chứng khoán phái sinh không hoàn toàn mang lại lợi ích, mà kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các sản phẩm này cũng tiềm ẩn rủi ro do: tỷ lệ đòn bẩy cao, quản trị công ty có nhiều hạn chế, rủi ro đối tác mất khả năng thanh toán..., nên điều quan trọng là phải phát huy tối đa các tác động tích cực, giảm thiểu các ảnh hưởng không mong muốn.

Từ kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn phát triển của TTCK Việt Nam, TTCK phái sinh cần trải qua những giai đoạn phát triển nào để vừa đáp ứng nhu cầu của giới đầu tư, hiện đại hóa cấu trúc TTCK, vừa đảm bảo phát triển bền vững, lành mạnh?

Là một thị trường đi sau, chúng ta đã kế thừa được nhiều kinh nghiệm phát triển TTCK phái sinh từ các quốc gia trước, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 - 2009. Về cơ bản, việc xây dựng và phát triển TTCK phái sinh gồm 3 giai đoạn lớn: 

Giai đoạn đầu từ 2013 - 2016, tập trung xây dựng chiến lược phát triển cho thị trường, trong đó quan trọng nhất là xác lập mô hình cấu trúc thị trường, bảo đảm giảm thiểu các nguyên nhân, hạn chế dẫn tới những bất ổn, thậm chí là khủng hoảng hệ thống tài chính, ngân hàng. Điều này, chúng ta đã xử lý được thông qua việc xác lập mô hình đối tác trung tâm CCP, không chỉ phục vụ hoạt động thanh toán, bù trừ cho thị trường phái sinh niêm yết, mà về lâu dài là cả thị phái sinh OTC.

Giai đoạn tiếp theo, sau khi TTCK phái sinh được đưa vào vận hành, sẽ triển khai theo lộ trình tại Quyết định 366/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển TTCK phái sinh Việt Nam.

Trước mắt, tập trung khai thác và giao dịch Hợp đồng tương lai chỉ số VN30. Sau một thời gian triển khai, chúng ta sẽ đánh giá và triển khai sản phẩm Hợp đồng tương lai chỉ số HNX30, cũng như Hợp đồng tương lai dựa trên trái phiếu Chính phủ.

Giai đoạn sau năm 2020, hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của TTCK phái sinh, từng bước đa dạng hóa các sản phẩm giao dịch. Trong giai đoạn này, cũng cần nghiên cứu để có lộ trình triển khai các sản phẩm quyền chọn và các sản phẩm phái sinh khác. Thông thường, các quyền chọn phổ biến là quyền chọn cổ phiếu, quyền chọn chỉ số và quyền chọn hợp đồng tương lai.

Việc mở rộng sản phẩm phái sinh dựa trên các hàng hóa cơ sở khác, không phải là chứng khoán, như thị trường phái sinh theo thông lệ quốc tế, cũng cần phải nghiên cứu và xem xét trong giai đoạn này, góp phần phát triển thị trường tài chính và đưa thị trường này thật sự trở thành kênh huy động vốn chủ đạo, bền vững cho nền kinh tế.

Là một trong những chủ thể quan trọng trực tiếp tham gia xây dựng và vận hành TTCK phái sinh, HNX đã phải vượt qua những thách thức nào để thành công trong đưa thị trường này vào hoạt động, thưa ông?

Để chuẩn bị cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống cho TTCK phái sinh hoạt động, chúng tôi đã mất gần 18 tháng. Có thể nói, đây là thời gian ngắn chưa từng có cho một hệ thống giao dịch, thanh toán hoàn toàn mới. Quá trình xây dựng hệ thống, chúng tôi cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức.

TTCK phái sinh rất đặc thù, không giống các sản phẩm cơ sở hiện có, nên chúng tôi đã phải tìm hiểu rất nhiều để có thể đưa ra các bài toán nghiệp vụ phát triển hệ thống, với những tính năng cần thiết đặc thù. Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế rất đa dạng, nên để đưa ra quyết định cuối cùng cho thiết kế hệ thống, chúng tôi đã tìm hiểu không chỉ những thị trường trong khu vực, mà phải tìm hiểu tới hơn 30 thị trường với rất nhiều sản phẩm và quy định về giao dịch, thanh toán.

Trong bối cảnh kỹ thuật giao dịch, thanh toán ngày một hiện đại, các thị trường lại thay đổi hệ thống mới, nên lựa chọn một phương án phù hợp với khả năng hiện tại của thị trường Việt Nam là không đơn giản.

Việc tìm kiếm đối tác có giải pháp đáp ứng cho HNX và Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam trên cùng một nền tảng công nghệ, có tích hợp đủ các nghiệp vụ, nhằm đảm bảo thời gian phát triển đồng bộ và nhanh chóng là một khó khăn khác, khi mà luôn phải cân nhắc chi phí. Việc lựa chọn một hệ thống giúp hỗ trợ kết nối toàn thị trường cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. 

Hữu Hòe thực hiện.

Thị trường chứng khoán

Vietjet, cổ phiếu tăng trưởng và chiến lược đầu tư nào phù hợp?

Thị trường chứng khoán  |   TNCK  |   14 giờ trước

(ĐTCK) Benjamin Graham, bậc thầy chứng khoán về đầu tư giá trị đã từng nói: "Đầu tư không phải là việc thắng những người khác trong trò chơi của họ, mà là việc kiểm soát mình trong chính trò chơi của mình". Điều này ám chỉ mỗi nhà đầu tư cần phải có lựa chọn riêng của riêng mình trong cách đầu tư để tránh hùa theo đám đông.

NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 60,900
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 8,900
HVA Công tyCổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 3,200
HKB CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC PHẨM HÀ NỘI - KINH BẮC 3,100
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 3,100
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,700
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 7,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 4,500
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
TOP CTCP Phân phối Top One 2,000
SHG Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunhouse 3,300
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 35,400
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 24,600
ACL Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (CL - Fish Corp ) 8,450
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 9,200
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,150
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,800
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 8,920
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 44,500
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 11,200
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,800
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,790
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 29,900
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 34,850
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 20,400
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 17,000
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 29,300
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 77,900
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 10,900
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 11,700
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 56,300
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 34,900
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 22,900
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 15,400
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 5,100
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 17,500
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,050
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 73,800
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,890
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 26,600
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 18,650
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 17,300
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 9,990
CMV Công ty Cổ phần Thương nghiệp Cà Mau (Camex) 19,500
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,690
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 28,000
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,300
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 208,700
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 19,400
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 30,250
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 1,900
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 50,000
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 13,400
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 23,700
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 36,000
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 30,500
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 108,300
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 5,300
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,190
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 30,100
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 15,100
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 13,300
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 12,900
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 25,700
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,100
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 13,800
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 34,700
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 10,700
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,900
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,900
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,200
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 3,000
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,700
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 13,600
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 9,100
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 9,900
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 38,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,800
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,900
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 7,600
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,500
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 17,000
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 16,000
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 11,600
BTH Công ty Cổ phần Chế tạo Biến thế và Vật liệu điện Hà Nội (CTBT HN., JSC) 9,300
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 6,300
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 20,400
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 19,300
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 6,900
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 27,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 38,500
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 47,600
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 19,800
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,600
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 3,600
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 5,200
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 36,300
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,800
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,700
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 30,000
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 4,500
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 11,600
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 18,300
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 5,500
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 51,500
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,000
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 600
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 29,000
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,000
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,700
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 15,000
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 42,000
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 5,300
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 15,500
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 8,500
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 4,800
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 1,100
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 14,400
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 16,500
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 9,600
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 31,600
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 23,000
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 16,000
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 18,700
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 6,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,200
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 13,500
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 17,400
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 18,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 14,400
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,900
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 33,300
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,200
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,100
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 14,200
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 5,300
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 25,000
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 14,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 5,800
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 13,600
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 45,000
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 8,100
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 8,700
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 21,900
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 9,000
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 56,000
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 10,400
Xem thêm...
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2016 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.