Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 826.84 -2.09 (-0.25%)
  • HNX-Index 108.14 -0.94 (-0.86%)
  • UPCOM-Index 54.38 -0.16 (-0.29%)
Kinh tế quốc tế
Mỹ, Trung Quốc, châu Á và những ảnh hưởng đến bức tranh thương mại thế giới
Đăng 17/05/2017 | 10:19 GMT+7  |   CafeF
Thế giới, và cả châu Á, đang ở trạng thái cân bằng nhưng không hề ổn định.

Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng “bảo hộ sẽ đem tới sự thịnh vượng và sức mạnh lớn”. Ngược lại, Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc lại tin rằng cần phải “thúc đẩy thương mại và đầu tư, chủ nghĩa tự do và mở cửa tạo điều kiện phát triển, nói không với chủ nghĩa bảo hộ”. Vậy sự trái ngược trong hai quan điểm trên sẽ tác động như thế nào tới tương lai của động lực phát triển của thương mại châu Á?

Đây là một câu hỏi có ý nghĩa quan trọng với toàn thế giới. Hiện nay, phần lớn những nền kinh tế năng động nhất thế giới, bao gồm hai “gã khổng lồ” Trung Quốc và Ấn Độ, đều nằm tại khu vực châu Á, cụ thể là Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á. Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF dự đoán tỉ trọng của các nền kinh tế mới nổi tại châu Á trong tổng sản lượng thế giới (với sức mua tương đương) sẽ tăng từ gần 9% trong năm 1980 lên 38% trong năm 2021, không chênh lệch nhiều so với các quốc gia tiên tiến.

Cam kết thương mại tự do của Mỹ đã tạo ra một môi trường giúp châu Á phát triển. Mở rộng thương mại đóng vai trò quyết định giúp châu Á tăng trưởng kinh tế nhanh, thông qua khai thác lợi thế so sánh, quy mô kinh tế, tiếp cận chuyên môn và tăng cường cạnh tranh.

Kết quả khá bất ngờ, đặc biệt là ở Trung Quốc. Tỉ trọng xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc đã tăng từ khoảng 1% vào năm 1981 lên 4% vào năm 2000 – ngay trước khi quốc gia này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2001 – và lên 14% vào năm 2015.

Tỉ trọng xuất khẩu hàng hoá của các nền kinh tế châu Á mới nổi tăng vọt từ 4% vào năm 1981 lên 14% vào năm 2015. Trong khi đó, tỉ trọng của Nhật Bản lại giảm từ 10% vào năm 1993 xuống còn 4% vào năm 2015. Nhìn chung, tỉ trọng xuất khẩu hàng hoá của châu Á so với thế giới (bao gồm tái xuất khẩu) đạt 33% trong năm 2015.

WTO (thành lập năm 1995) và trước đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT – 1947) đã đưa ra khung thể chế chính cho tăng trưởng thương mại tại châu Á. GATT thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu thông qua tám vòng đàm phán đa phương. Vòng đàm phán cuối cùng dưới thời GATT là Vòng đàm phán Uruguay được thông qua vào năm 1994. Vòng đàm phán Doha bắt đầu vào năm 2001 và vòng đàm phán gần nhất dưới thời WTO vẫn chưa kết thúc.

Khác với châu Âu, các hiệp định thương mại khu vực, ngoại trừ Asean, đều không đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển thương mại tại châu Á. Bên cạnh đó, giữa Mỹ và Hàn Quốc có một hiệp định thương mại song phương quan trọng. Ngoài ra, giữa Asean và Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có Asean Cộng Ba (Asean Plus Three – APT). Tuy nhiên, APT giống một tổ chức phối hợp hơn là một hiệp định thương mại.

Dù có một số dấu hiệu phục hồi, nhưng tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu đang dần chậm lại kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính. Từ năm 2012 đến 2015, tăng trưởng khối lượng hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu trung bình từ các nền kinh tế châu Á mới nổi chỉ chiếm hơn 4%, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng trước khủng hoảng ở giai đoạn 2007-2008 và mức tăng trưởng GDP trung bình của khu vực.

Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới cũng đang chững lại. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng phát triển, nhưng đây không phải là lý do đằng sau tốc độ tăng trưởng chậm của thương mại toàn cầu. Thay vào đó, sự “vắng mặt” của quá trình tự do hoá cùng sự kiệt quệ các cơ hội phân chia các chuỗi cung ứng qua biên giới mới là nguyên nhân chính.

Tuy nhiên, IMF lại cho rằng nhu cầu giảm – đặc biệt là đầu tư giảm – mới là yếu tố quan trọng nhất khiến thương mại toàn cầu phát triển chậm. Điều này cho thấy thương mại toàn cầu có thể phục hồi trở lại, nhưng điều này phụ huộc vào chính sách thương mại.

Trước sự phát triển kinh tế và chính trị của Trung Quốc, và quá trình tự do hoá thất bại trong WTO, cựu tổng thống Barack Obama đã quyết định thúc đẩy Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ dẫn đầu. TPP được ký kết vào tháng 2 năm 2016 với sự tham gia của Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam và Mỹ. Tuy nhiên, vào ngày 23/01/2017, tân tổng thống Donald Trump đã tuyên bố Mỹ rút khỏi TPP. Các nước còn lại vẫn đang theo đuổi 1 TPP không có Mỹ.

Việc Mỹ rút khỏi TPP đã trao cơ hội cho Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang thúc đẩy ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Ngoài một số thành viên của TPP, thành viên của RCEP còn có thêm Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Lào, Myanma, Phillipin và Thái Lan.

Với hai quốc gia đông dân nhất thế giới, các nước thành viên RCEP đóng góp 31% tổng lượng hàng hoá xuất khẩu toàn thế giới và có tổng GDP cao hơn tổng GDP của các quốc gia TPP.

Dù mục tiêu của RCEP thấp hơn TPP, nhưng RCEP có thể xây dựng nền tảng cho một khu vực thương mại tự do tại châu Á và tây Thái Bình Dương trong tương lai do Trung Quốc đứng đầu. Tuy nhiên, RCEP chỉ có hiệu lực khi Trung Quốc hình thành một thị trường rộng mở cho các quốc gia khác.

Sáng kiến “Một vành đai, Một con đường” do Trung Quốc khởi xướng vào năm 2013 có thể đẩy nhanh quá trình hình thành một thị trường như trên. Mục tiêu là sử dụng vốn và khả năng tổ chức của Trung Quốc nhằm thúc đẩy cung ứng cơ sở hạ tầng trên lục địa Á-Âu và ở cả những khu vực khác.

Nếu thành công, sáng kiến này sẽ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế trong một hệ thống kinh tế với trung tâm là Trung Quốc. Nhu cầu cơ sở hạ tầng tại khu vực châu Á Thái Bình Dương là vô cùng lớn, và các nguồn lực bổ sung của Trung Quốc là hữu dụng.

Thế giới, và cả châu Á, đang ở trạng thái cân bằng nhưng không hề ổn định. Mỹ đang quay lưng với vai trò sau chiến tranh của mình – một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của châu Á. Liệu một trật tự mới xoay quanh Trung Quốc có khiến tình hình hỗn loạn?

Những người lạc quan coi đây là cơ hội; nhưng những người bi quan lại tin rằng đây là nguy cơ. Còn thực tế hiện nay lại là sự kết hợp của cả hai.

Quỳnh Mai

Theo Trí thức trẻ/Financial Times


Kinh tế quốc tế

Dow Jones và S&P leo dốc 6 tuần liên tiếp

Kinh tế quốc tế  |   VietStock  |   1 ngày trước

Chứng khoán Mỹ lại lên mức kỷ lục mới trong ngày thứ Sáu, trong đó S&P 500 ghi nhận 6 tuần leo dốc liên tiếp sau khi Thượng viện Mỹ thông qua giải pháp ngân sách, qua đó làm tăng hi vọng rằng kế hoạch cắt giảm thuế suất của Tổng thống Donald Trump có thể thực thi, Reuters đưa tin.

TTCK Hồng Kông giảm mạnh nhất trong năm 2017

Kinh tế quốc tế  |   VietStock  |   19/10/2017

Các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Hồng Kông giảm mạnh trong phiên giao dịch buổi chiều, khi các chuyên viên giao dịch đề cập tới nhiều nỗi lo từ các rủi ro của biện pháp giảm bớt đòn bẩy tại Trung Quốc cho tới sự gia tăng của lãi suất liên ngân hàng ở Hồng Kông.

Ở một trong những nơi có chi phí nhân công rẻ nhất thế giới, robot có thể thay thế 60-80% lực lượng lao động

Kinh tế quốc tế  |   CafeF  |   19/10/2017

Bulter, một con rô bốt màu cam với dáng dẻ mập mạp đang di chuyển qua lại giữa các lối đi để lấy tất cả mọi thứ từ điện thoại tới dầu gội đầu trên các kệ trong kho. Nó chỉ mất 1 giờ để làm những gì mà người công nhân phải mất 5 giờ.

Có lúc Dow Jones đột phá ngưỡng 23,000

Kinh tế quốc tế  |   VietStock  |   18/10/2017

Dow Jones tích tắc phá vỡ ngưỡng 23,000 điểm lần đầu tiên trong ngày thứ Ba, chủ yếu nhờ vào lợi nhuận tích cực của UnitedHealth và Johnson & Johnson, dẫu vậy, chỉ số này đã rút khỏi mức 23,000 vào cuối phiên, Reuters đưa tin.

EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 13,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 84,000
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,000
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 3,300
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,500
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,700
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,500
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 7,900
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,580
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 9,400
AAM Công ty Cổ phần Thủy sản Mekong (MEKONGFISH) 10,400
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 33,500
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 24,700
ACL Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (CL - Fish Corp ) 8,700
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 8,700
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,070
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,440
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,810
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 55,000
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,750
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,560
BBC Công ty Cổ phần Bibica (BIBICA) 103,400
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,680
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 30,500
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 33,000
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 21,400
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 17,600
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 28,000
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 78,600
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 10,500
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 55,000
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 35,000
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 18,000
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,750
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 33,400
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 73,800
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,920
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 26,600
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 19,000
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 17,950
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 11,200
CMV Công ty Cổ phần Thương nghiệp Cà Mau (Camex) 22,000
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,570
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 28,300
COM Công ty Cổ phần Vật tư - Xăng dầu (COMECO) 52,800
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,100
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 214,000
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 19,450
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 27,150
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 1,900
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 53,100
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 10,650
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 22,600
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 35,900
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 35,000
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 114,200
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 4,700
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,290
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 31,700
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,400
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 13,500
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 14,100
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 26,000
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,400
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 15,000
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 31,000
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 10,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,300
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,300
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,200
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,800
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,400
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 12,000
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 8,300
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 10,000
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 38,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,400
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,600
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 8,200
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,100
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 18,900
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 14,400
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 13,300
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 5,500
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,900
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 23,300
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 7,900
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 25,500
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 37,200
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 39,000
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 18,200
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,900
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 2,600
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,900
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 39,000
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,800
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,600
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 32,900
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 4,000
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 11,000
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 19,400
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 5,200
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 50,300
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,800
D11 Công ty Cổ phần Địa ốc 11 (RES 11 JSC) 13,000
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 600
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 32,700
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,800
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,700
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 15,000
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 58,800
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 6,000
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 15,600
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 7,800
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 6,100
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 1,000
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 14,400
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 16,500
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 8,000
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 37,900
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 17,900
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 16,000
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 20,000
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 6,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 12,000
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 12,900
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 16,100
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 18,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 15,500
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,100
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 34,500
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 3,900
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 4,900
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 14,200
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 5,000
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 25,000
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 10,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,300
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 14,000
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 45,500
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 10,300
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 6,400
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 17,600
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 9,000
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 66,500
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 14,500
Xem thêm...
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2016 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.