Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 874.80 -3.87 (-0.44%)
  • HNX-Index 113.64 -0.49 (-0.43%)
  • UPCOM-Index 55.98 +0.39 (+0.71%)
'Đã kiểm soát được tình hình các ngân hàng yếu kém'
Đăng 25/09/2013 | 09:18 GMT+7  |  
Sau hai năm thực hiện tái cơ cấu, hoạt động của các ngân hàng yếu kém đã được kiểm soát và bước đầu có chuyển biến, một khối lượng lớn nợ xấu đã được xử lý.

 

 

Trao đổi với VnEconomy khi nhìn lại hai năm qua, kể từ khi Trung ương Đảng có quyết định tái cơ cấu nền kinh tế mà hệ thống ngân hàng là một trọng tâm, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước khẳng định: “Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đã và đang được triển khai theo đúng mục tiêu, định hướng và lộ trình đặt ra, theo đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.

Ông Nghĩa nói:

- Trước hết là khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng được cải thiện và bảo đảm; kỷ cương, kỷ luật của ngành ngân hàng từng bước được nâng cao; nguy cơ đổ vỡ hệ thống được ngăn chặn; an toàn hệ thống, tiền gửi của nhân dân và tài sản của Nhà nước được bảo đảm.

Các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém có nguy cơ đổ vỡ ở thời điểm đầu năm 2012 đã được cơ cấu lại một bước quan trọng thông qua sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc có sự tham gia của nhà đầu tư mới nhằm khắc phục những yếu kém, sai phạm và tổn thất, đồng thời từng bước đưa các ngân hàng này đáp ứng các các tiêu chuẩn an toàn hoạt động.

Cho đến nay, các phương án tái cơ cấu ngân hàng yếu kém đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện và nguồn lực của khu vực tư nhân; Nhà nước chưa phải can thiệp bắt buộc đối với ngân hàng nào.

Cùng với tái cơ cấu, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng các tổ chức tín dụng vẫn tích cực tăng vốn điều lệ để nâng cao khả năng đối phó rủi ro; năm 2012, vốn điều lệ của toàn hệ thống đã tăng 11,29%, 8 tháng đầu năm 2013 tăng 4,02%. Nợ xấu cũng đã tăng trưởng chậm lại; các tổ chức tín dụng đã xử lý được một khối lượng lớn nợ xấu bằng dự phòng rủi ro.

Các tổ chức tín dụng đang triển khai các giải pháp tái cơ cấu về quản trị, điều hành, đặc biệt là các hệ thống quản trị rủi ro, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ. Họ cũng đã tiến hành cơ cấu lại hoạt động kinh doanh và danh mục tài sản theo hướng thu hẹp hoặc từng bước rút lui khỏi các lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh vàng, hạn chế đầu tư tài chính, cho vay đầu tư bất động sản.

Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng được tăng cường để hỗ trợ và giám sát quá trình thực hiện tái cơ cấu. Khuôn khổ pháp lý hoạt động ngân hàng và hệ thống quy chế an toàn được hoàn thiện một bước nhằm hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu và bảo đảm các tổ chức tín dụng phải hoạt động trên nền tảng an toàn, lành mạnh hơn.

Đến nay Ngân hàng Nhà nước cơ bản đã xử lý gần xong nhóm các ngân hàng yếu kém. Nhưng thực tế tình hình hoạt động, tình hình tài chính của những ngân hàng đó sau tái cơ cấu có chuyển biến tích cực không?

Các ngân hàng yếu kém được tái cơ cấu về cơ bản đã hoạt động tương đối ổn định và chuyển biến tích cực hơn so với thời điểm bắt đầu thực hiện tái cơ cấu.

Cụ thể, các tỷ lệ an toàn hoạt động, khả năng chi trả được cải thiện; huy động vốn từ dân cư tăng khá thể hiện sự tin tưởng của người dân; nợ xấu mặc dù gia tăng trong giai đoạn đầu sau tái cơ cấu nhưng đã tích cực được xử lý và có lộ trình cụ thể để thu hồi các khoản nợ này; các vi phạm về tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, vi phạm về cấp tín dụng đang được khắc phục, xử lý; hệ thống quản trị và tổ chức bộ máy, mạng lưới đã và đang được củng cố, chấn chỉnh...

Về cơ bản, Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát được tình hình của các ngân hàng yếu kém thông qua các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục giám sát chặt chẽ việc các ngân hàng thương mại thực hiện các phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt, đồng thời tiếp tục nhận diện các tổ chức tín dụng yếu kém qua công tác thanh tra, giám sát để có biện pháp tái cơ cấu thích hợp.

Nhìn lại, sau hai năm đầu thực hiện tái cơ cấu, ông thấy Ngân hàng Nhà nước gặp những khó khăn và thuận lợi gì?

Trước hết, về thuận lợi là có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ; sự quyết tâm, linh hoạt trong điều hành và thực thi chính sách của Ngân hàng Nhà nước; sự ủng hộ, đồng thuận của các bộ, ngành, đặc biệt Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các UBND tỉnh, thành phố liên quan.

Thêm vào đó, nền tảng pháp lý ban đầu hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu như quy định về kiểm soát đặc biệt; sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; xử lý ngân hàng yếu kém… bước đầu đã hình thành.

Ngoài ra, hầu hết các tổ chức tín dụng đã nhận thức được tầm quan trọng cũng như cơ hội, thách thức trong quá trình tham gia công cuộc tái cơ cấu và đã chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch tái cơ cấu dài hạn nhằm khắc phục tồn tại, yếu kém, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững.

Đặc biệt là dư luận xã hội ngày càng có sự đồng thuận, chia sẻ với việc triển khai tái cơ cấu của ngành ngân hàng.

Về khó khăn thì theo tôi, khuôn khổ pháp lý cho việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng nói chung chưa hoàn thiện.

Việc cơ cấu lại hệ thống và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục, quy định. Cơ chế, quy định trong lĩnh vực xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng vay không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng hoặc vi phạm hợp đồng tín dụng... còn hết sức bất cập, tạo ra những chi phí đáng kể đối với các ngân hàng, đồng thời kéo dài thời gian thu hồi nợ, xử lý nợ xấu, làm suy giảm kỷ luật thị trường trong quan hệ vay mượn.

Ngoài ra, việc thiếu nguồn lực tài chính công để có thể hỗ trợ cho việc xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống tổ chức tín dụng cũng là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến trình tái cơ cấu. Kinh tế vĩ mô và điều kiện sản xuất - kinh doanh, thị trường tài chính trong nước và quốc tế gặp nhiều khó khăn, việc huy động các nguồn vốn và tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, quản trị để tham gia tái cơ cấu không thuận lợi.

Ông có nói nợ xấu đã tăng trưởng chậm lại, một khối lượng lớn nợ xấu đã được xử lý. Cụ thể như thế nào, thưa ông?


Trong 8 tháng đầu năm 2013, nợ xấu tăng hơn 20,15% so với cuối năm 2012, còn cùng kỳ năm 2012 là 59,2%. Dư nợ tín dụng tăng vẫn còn chậm dẫn đến tỷ lệ nợ xấu nội bảng trên tổng dư nợ tín dụng tăng liên tục từ 4,08% cuối năm 2012 lên 4,64% vào tháng 8/2013.

Tốc độ tăng của nợ xấu đã chậm lại là kết quả của việc hệ thống ngân hàng đã tích cực thực hiện các giải pháp để kiềm chế nợ xấu gia tăng và xử lý nợ xấu như triển khai các giải pháp tự xử lý nợ xấu; cơ cấu lại nợ để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay phục vụ sản xuất; tích cực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro; thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế nợ xấu phát sinh mới.

Trong năm 2012 và 8 tháng đầu năm 2013, ước tính các tổ chức tín dụng đã xử lý được khoảng 95 ngàn tỷ đồng từ nguồn dự phòng rủi ro.

Về dài hạn, ông nói gì về triển vọng giảm nợ xấu về dưới 3% đến năm 2015?

Nếu các giải pháp xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã xác định và các giải pháp hỗ trợ từ các bộ, ngành, địa phương được triển khai đồng bộ theo đúng tinh thần tại Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng về mức an toàn đến năm 2015 theo tôi là khả thi.

Theo vneconomy



vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 12,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 15,500
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 3,000
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,800
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 33,450
ACC CTCP Bê Tông Becamex 19,000
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 24,950
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,900
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 13,900
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,460
ANV CTCP Nam Việt 18,150
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 17,400
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 5,830
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 5,540
BBC CTCP Bibica 45,600
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 7,800
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 22,000
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 40,550
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,400
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,700
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 47,500
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,450
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 14,900
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 39,900
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 49,900
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 24,300
C47 CTCP Xây Dựng 47 11,900
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 7,110
CDC CTCP Chương Dương 16,100
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 19,150
CLC CTCP Cát Lợi 27,200
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,390
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 26,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 27,750
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 6,700
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 13,950
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 16,350
CNG CTCP CNG Việt Nam 21,150
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 42,450
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 15,950
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 71,900
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 23,450
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 19,000
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 61,500
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,360
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 21,350
DHA CTCP Hóa An 31,500
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 36,750
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 24,800
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 14,100
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,900
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 1,800
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,200
AME CTCP Alphanam E&C 6,900
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 16,800
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 9,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 4,400
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,300
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 29,600
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 1,100
B82 CTCP 482 400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,700
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,800
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 4,200
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,600
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 11,400
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 15,500
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,300
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 9,500
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,100
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 22,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 28,900
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 26,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 7,700
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 17,100
CKV CTCP COKYVINA 13,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,300
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,300
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 2,600
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 15,400
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 22,500
CT6 CTCP Công Trình 6 3,200
CTA CTCP Vinavico 100
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 34,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,300
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 9,200
CVN CTCP Vinam 10,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 8,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 30,900
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 15,600
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 14,300
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 44,900
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 10,800
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 700
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 27,700
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 2,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 3,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,000
HDO CTCP Hưng Đạo Container 200
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 300
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 400
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 4,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 35,600
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 3,900
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 26,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 29,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 23,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,500
BVN CTCP Bông Việt Nam 11,700
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 4,700
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 300
CFC CTCP Cafico Việt Nam 23,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,000
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,300
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 18,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 10,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 40,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 10,200
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 109,800
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 18,800
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 18,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 9,400
DPP CTCP Dược Đồng Nai 16,400
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 27,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,500
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 28,800
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 8,600
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,100
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 31,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,600
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 13,800
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 10,800
HDM CTCP Dệt May Huế 15,700
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2020 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp