Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 898.19 +1.04 (+0.12%)
  • HNX-Index 103.01 +2.00 (+1.98%)
  • UPCOM-Index 52.01 +0.76 (+1.49%)
Tài chính ngân hàng
Ngân hàng báo lãi nghìn tỉ, nợ xấu vẫn cao
Đăng 09/11/2018 | 08:20 GMT+7  |   CafeF
Mặc dù nhiều ngân hàng báo kết quả kinh doanh quý III/2018 khả quan, nhưng qua báo cáo tài chính cho thấy tỉ lệ nợ xấu ở nhiều ngân hàng tăng. Đáng chú ý là tỉ trọng nợ xấu nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong tổng nợ xấu nội bảng tăng mạnh ở một số ngân hàng.

Câu lạc bộ nghìn tỉ gọi tên nhiều ông lớn

Tính tới thời điểm hiện tại, hầu hết các ngân hàng đều đã công bố báo cáo tài chính quý III/2018. Trong số 26 ngân hàng thương mại, có 21 ngân hàng đã hoàn thành được hơn 70%. Những “ông lớn” như Vietcombank, BIDV, Techcombank đã hoàn thành gần 90% kế hoạch chỉ trong 9 tháng. Tổng lợi nhuận trước thuế đạt hơn 67.000 tỉ, tăng 41% so với cùng kỳ năm trước.

“Câu lạc bộ ngân hàng lãi nghìn tỉ” sau 9 tháng kinh doanh đã điểm tên các ông lớn như Vietcombank, VietinBank, BIDV, VPBank, Techcombank, MBBank, ACB, HDBank...

Xếp ở vị trí số 1 trong “câu lạc bộ nghìn tỉ” là Vietcombank. Cụ thể, trong quý III/2018, thu nhập lãi thuần của Vietcombank bứt tốc so với 2 quý đầu năm, đạt 7.432 tỉ đồng, tăng 41,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm, Vietcombank lãi trước thuế 11.683 tỉ đồng, lãi ròng 9.378 tỉ, tăng 47% so với cùng kỳ.

Bám đuổi ở vị trí thứ hai là Techcombank. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế của Techcombank đạt 7.774 tỉ, tăng 61% so với cùng kỳ. Hầu hết các mảng kinh doanh đều có tăng trưởng dương và khá đồng đều: thu nhập lãi thuần tăng 26% đạt 8.168 tỉ, hoạt động dịch vụ tăng 25% đạt 2.113 tỉ, lãi từ kinh doanh ngoại hối tăng 22% đạt 247 tỉ.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế của VietinBank đạt 7.596 tỉ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ. Với mức lợi nhuận này, VietinBank đứng thứ 3 trong hệ thống, xếp sau Techcombank và Vietcombank.

BIDV xếp vị trí thứ 4 khi lợi nhuận trước thuế 9 tháng hợp nhất đạt mức 7.254 tỉ đồng.

VPBank công bố lợi nhuận hợp nhất trước thuế tăng từ mức 4.376 tỉ đồng hồi giữa năm lên 6.125 tỉ đồng tính đến thời điểm 30.9.2018.

HDBank cũng công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 9 tháng đầu năm 2018 với những chỉ tiêu tăng trưởng rất khả quan. Với lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm đạt 2.884 tỉ đồng, tăng 50,8% so với cùng kỳ năm trước. Mức lợi nhuận cao giúp ROE (tỉ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) của nhà băng này duy trì trên 20%.

Biểu đồ so sánh kết quả kinh doanh và nợ xấu của các ngân hàng trong 9 tháng đầu năm 2018.

Bức tranh nợ xấu cũng lộ diện

Soi vào kết quả kinh doanh quý III/2018 của các ngân hàng, bức tranh nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã có nhiều biến động với tỉ lệ nợ xấu các ngân hàng dao động từ 0,7% - 4,7%. Bên cạnh việc tỉ lệ nợ xấu gia tăng, thì đáng chú ý là tỉ trọng nợ xấu nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong tổng nợ xấu nội bảng tăng mạnh ở một số ngân hàng.

Trao đổi với PV báo Lao Động, một chuyên gia ngân hàng cho rằng “Đánh giá về nợ xấu cần nhìn cả nợ xấu nội bảng và nợ xấu ngoại bảng. Nợ xấu nội bảng là nợ xấu ghi nhận trong bảng cân đối kế toán. Nợ xấu ngoại bảng là các khoản nợ xấu chưa xử lý hiện đang nằm ở VAMC... Đối với nợ xấu nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn, mặc dù tăng mạnh nhưng theo quy định các ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi ro toàn bộ 100%”.

Nếu đặt lên bàn cân để so sánh 3 “ông lớn” trong ngành ngân hàng là Vietcombank, VietinBank và BIDV thì hiện tại Vietcombank có tỉ lệ nợ xấu thấp nhất 1,18% (tăng 0,04% so với cuối năm 2017). VietinBank hiện có tỉ lệ nợ xấu đang ở mức 1,36% (tăng 0,23% so với cuối năm 2017).

Nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất (72%) trong cơ cấu nợ xấu và cũng là nhóm nợ tăng mạnh nhất trong 9 tháng đầu năm nay tại VietinBank (tăng 68% lên 8.739 tỉ đồng). BIDV có tỉ lệ nợ xấu cao nhất trong số 3 ngân hàng là 1,75% (tăng 0,13% so với cuối năm 2017).

Trong số 3 ngân hàng, nếu tính về tốc độ tăng số dư nợ xấu thì số dư nợ xấu VietinBank tăng 34,5% lên mức 12.127 tỉ đồng chỉ trong 9 tháng đầu năm. Đáng chú ý, tính tới hết quý III, số dư nợ xấu của BIDV hiện đang ở mức 17.000 tỉ đồng (tăng 21,1% so với cuối năm 2017) và là con số gần cao nhất hệ thống ngân hàng.

Một trong những ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu cao so với toàn ngành là Sacombank với tỉ lệ nợ xấu 3,2%. Tuy nhiên, nếu tính từ đầu năm tới nay thì tỉ lệ nợ xấu của Sacombank đã giảm 1,46% và chất lượng nợ vay của ngân hàng đã cải thiện đáng kể.

Tỉ lệ nợ xấu của VPBank cũng đáng quan ngại 4,7% (tăng 1,31% với con số 3,39% tại thời điểm 31.12.2017). Tính tới hết quý III/2018, số dư nợ xấu của VPBank tăng 52% so với hồi đầu năm, ở mức 9.400 tỉ đồng.

Mặc dù có kết quả kinh doanh quý III tăng trưởng ấn tượng nhưng số dư nợ xấu của MB lại tăng vọt. Cụ thể, kết quả lợi nhuận trước thuế của MB đạt hơn 6.014 tỉ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ và thực hiện được 88% kế hoạch năm 2018. Tuy nhiên, nợ xấu của MB sau 9 tháng đầu năm tăng đến 45% so với hồi đầu năm.

Trước đó, tại buổi sơ kết 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 42 và Quyết định số 1058, ông Nguyễn Văn Du - Phó Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng - cho biết “Đến 30.6.2018, hệ thống TCTD đã xử lý được 138,29 nghìn tỉ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 (không bao gồm 61,04 nghìn tỉ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng). Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 70,23 nghìn tỉ đồng (chiếm 50,78%), xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 21,59 nghìn tỉ đồng (chiếm 15,61%) và xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 46,46 nghìn tỉ đồng (chiếm 33,59%)”.

Trước đây, khi nói đến nợ xấu, nhiều người có suy nghĩ nguyên nhân do lỗi của các ngân hàng. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Nghiêm Xuân Thành - Chủ tịch HĐQT Vietcombank - kể từ khi Nghị quyết 42 được ban hành, xã hội có cái nhìn tích cực hơn.

Nợ xấu không chỉ có nguyên nhân phát sinh từ các ngân hàng mà từ thị trường, từ sản xuất kinh doanh của khách hàng bị suy giảm, phá sản, một số khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ ngân hàng. Do vậy việc giải quyết nợ xấu không chỉ là trách nhiệm của ngành ngân hàng mà là trách nhiệm của các cơ quan quản lý, ban ngành các cấp.

Trong quá trình thực hiện, đại diện NHNN cho biết, vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc cần sự chung sức, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự hỗ trợ, phối hợp của các bộ, ngành, địa phương như chưa có thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp khiến mua bán nợ xấu chưa sôi động, chưa có nhiều các thương vụ lớn.

Vướng mắc còn ở việc thực hiện nội dung liên quan đến việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ; vấn đề liên quan đến thứ tự ưu tiên thanh toán...

Nợ xấu 9 tháng của một số NHTMCP

* Ngân hàng TMCP Quân đội (MB): Nợ xấu 9 tháng tăng 45% so với đầu năm, trong đó nợ nghi ngờ (tăng 67%) và nợ có khả năng mất vốn (tăng 62%), dẫn đến tỉ lệ nợ xấu tăng lên mức 1,57% so với 1,2% đầu năm.

* Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank): Luỹ kế 9 tháng số dư nợ xấu tăng gần 429 tỉ đồng. Tỉ lệ nợ xấu 2,05%. Trong đó, nợ nhóm 5 - có nguy cơ mất vốn tăng thêm 474 tỉ đồng lên 2.027 tỉ đồng. Số dư dự phòng rủi ro cuối kỳ tăng lên mức 2.657 tỉ đồng.

* Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank): Tỉ lệ nợ xấu 3,2%. Tuy nhiên, nếu tính từ đầu năm tới nay thì tỉ lệ nợ xấu của Sacombank đã giảm 1,46% và chất lượng nợ vay của ngân hàng đã cải thiện đáng kể.

* Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank): Tính tới hết quý III/2018, số dư nợ xấu của VPBank tăng 52% so với hồi đầu năm, ở mức 9.400 tỉ đồng. Trong đó, nợ nhóm 3 tăng 61%, nợ nhóm 4 tăng 31% và nợ nhóm 5 tăng 62%.

* Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TPHCM (HDBank): Tính đến 30.9.2018, tỉ lệ nợ xấu của HDBank là 1,39%, giảm 0,12% so với thời điểm cuối năm 2017. Số dư nợ xấu của HDBank tính tới thời điểm 30.9.2018 là 1.810 tỉ đồng (tăng 14.3%) so với cuối năm ngoái.

* Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB): Luỹ kế 9 tháng tỉ lệ nợ xấu ở mức 2,5%. Số dư nợ xấu khoảng 2.273 tỉ đồng, tăng 14,45% so với thời điểm đầu năm. Trong đó nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) và nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng mạnh.

* Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank): Số dư nợ xấu 9 tháng đầu năm tăng 20% so với đầu năm. Mặc dù nợ nhóm 4 và nợ nhóm 5 (nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn) giảm, nhưng nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) tăng 77%.

* Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank): Tổng số dư nợ xấu 1.524 tỉ đồng, tăng 42% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) đều tăng mạnh. Tỉ lệ nợ xấu tăng lên mức 1,32% từ mức 1,06% so với đầu năm 2018.

* Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK): Số dư nợ xấu tính tới cuối tháng 9.2018 giảm xuống còn 1.101 tỉ đồng (giảm 17,1% so với thời điểm đầu năm). Tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng tính tới Quý III/2018 giảm xuống còn 2,42% so với mức 2,77% so với đầu năm.

* Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK): Tính luỹ kế 9 tháng, số dư nợ xấu tăng thêm 22,15% lên mức 431 tỉ đồng nợ xấu. Nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn ở mức 419,6 tỉ đồng, tăng 24,4% so với cuối năm 2017. LNTT quý III/2018 chỉ đạt 148,78 tỉ đồng, giảm 20,7% so với cùng kỳ năm trước.

Thống đốc NHNN chỉ đạo tăng cường xử lý nợ xấu

Tài chính ngân hàng

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 23,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTPO TCT CP Bưu chính Viettel 111,500
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 13,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 46,900
ACC CTCP Bê Tông Becamex 18,800
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 37,500
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 4,960
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 14,250
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,260
ANV CTCP Nam Việt 29,100
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 36,050
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 10,350
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,100
BBC CTCP Bibica 74,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,430
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 23,600
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 32,200
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,150
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,000
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 55,500
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 9,790
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 11,300
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 38,900
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 94,800
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 28,300
C47 CTCP Xây Dựng 47 19,900
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 11,700
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 3,190
CDC CTCP Chương Dương 14,600
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 26,150
CLC CTCP Cát Lợi 35,500
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 2,720
CLL CTCP Cảng Cát Lái 23,250
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 19,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 19,200
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 7,600
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 18,100
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 16,000
CNG CTCP CNG Việt Nam 26,850
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 57,900
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 15,050
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 147,900
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 21,950
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 24,550
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 69,800
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 6,220
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 9,640
DHA CTCP Hóa An 30,300
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 41,400
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 28,500
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 17,600
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 13,300
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 1,900
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,900
AME CTCP Alphanam E&C 15,300
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 35,600
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 18,300
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,800
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,900
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 56,500
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 700
B82 CTCP 482 1,000
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 13,000
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 6,700
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 8,900
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 25,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 2,900
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,100
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 9,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 12,900
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 35,200
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,900
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 12,300
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 8,600
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,800
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 25,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 36,700
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 25,200
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 12,800
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,500
CKV CTCP COKYVINA 20,900
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,300
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,200
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 5,600
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 34,300
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 29,500
CT6 CTCP Công Trình 6 4,500
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 29,800
CTC CTCP Gia Lai CTC 4,100
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 25,500
CVN CTCP Vinam 13,600
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 10,000
D11 CTCP Địa Ốc 11 13,500
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,000
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,100
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 27,600
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 13,500
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,200
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 46,900
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,100
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 2,700
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 4,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 600
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 27,000
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 500
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,300
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 900
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 19,200
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 6,000
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 27,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 23,600
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,200
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 49,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 16,400
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 5,700
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 500
CFC CTCP Cafico Việt Nam 18,900
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 6,400
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,000
CZC CTCP Than Miền Trung 9,400
DAP CTCP Đông Á 20,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 4,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 16,600
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 16,000
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 27,000
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 11,300
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 13,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 12,400
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 9,300
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 17,800
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 14,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,900
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 16,400
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 2,100
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 800
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 33,100
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 8,800
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 8,000
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 13,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 6,500
HDM CTCP Dệt May Huế 21,700
Xem thêm...
fpt capital mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.