Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 954.58 -1.31 (-0.14%)
  • HNX-Index 106.59 -0.23 (-0.21%)
  • UPCOM-Index 53.30 -0.05 (-0.09%)
Tài chính ngân hàng
Ngành ngân hàng 'thay da đổi thịt' 10 năm sau khủng hoảng
Đăng 17/09/2018 | 15:07 GMT+7  |   NDH
Nhưng điều đó có đồng nghĩa hệ thống tài chính đã trở nên an toàn hơn.

Masood - ông chủ của Express Cafe, tiệm cafe dạo ở bên ngoài số 745 đại lộ số 7 nằm ở ngay trung tâm Manhattan – là người đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ đầu đến cuối. Năm 1998, ông bán cafe cho những công nhân làm việc tại công trường nơi tòa tháp 32 tầng của Morgan Stanley mọc lên. Năm 2001, ông chào đón những nhân viên của Lehman Brothers hồ hởi chuyển sang đây vì trụ sở của họ đã bị phá hủy sau vụ tấn công 11/9.

Ông ở đó vào ngày định mệnh 15/9/2008, nhìn thấy những nhân viên Lehman bước ra khỏi tòa nhà với những chiếc hộp giấy trên tay vì vừa bị sa thải – hình ảnh ngày nay đã trở thành biểu tượng mỗi khi nhắc đến khủng hoảng tài chính 2008. Và ông cũng chứng kiến những ngày sau đó, khi nhiều nhân viên Lehman quay trở lại (cũng với những chiếc hộp giấy) để dọn dẹp "đống đổ nát", với sự trợ giúp của Barclays.

Sự kiện Lehman sụp đổ không phải là thời khắc mà khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra hay ở mức đỉnh điểm: hàng tuần sau đó thị trường chứng kiến nhiều vụ phá sản "kinh thiên động địa khác". Nhưng 15/9/2008 là thời khắc mà người ta bất chợt nhận ra những thứ trước đó từng được cho là không thể xảy ra hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Một ngân hàng khổng lồ đã được cho phép phá sản. Thị trường tín dụng ngay lập tức đóng băng trên toàn thế giới. Hệ thống tài chính hoàn toàn sụp đổ, kéo theo đợt suy thoái tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng những năm 1930.

Các ngân hàng đã khỏe mạnh hơn?

Nhưng theo nhiều cách, 10 năm qua tại số 745 Seventh Avenue mọi thứ dường như không thay đổi mấy. Masood chỉ ra những màn hình bao quanh tòa nhà đã chuyển từ màu xanh lá cây của Lehman sang màu xanh da trời của Barclays. Nhưng "trời không sập" và thị trường chứng khoán thì đã hồi phục mạnh mẽ để liên tiếp lập đỉnh.

Các ngân hàng đầu tư cũng đã nhộn nhịp trở lại, dù sự hào hứng không còn được đặt ở vị trí cũ. Trong giới tài chính, giờ đây những ngân hàng như Lehman không còn là tâm điểm chú ý, trái lại thị trường hứng khởi với các công ty vốn cổ phần tư nhân, các giao dịch tần số cao dựa trên thuật toán và các quỹ ETF tự động. Còn trong kinh doanh, công nghệ là ngành được quan tâm hơn so với tài chính.

Các ngân hàng có thể hết "hot", nhưng câu chuyện vẫn giống như trong quá khứ. Quay trở lại năm 2007, 5 định chế hàng đầu có 32,6% doanh thu đến từ mảng ngân hàng đầu tư, theo số liệu của Dealogic. Ngày nay tỷ trọng ở mức tương tự, dù trong danh sách UBS đã được thay thế bởi Bank of America Merrill Lynch.

Ngành ngân hàng thay da đổi thịt 10 năm sau khủng hoảng - Ảnh 1.

10 năm sau khủng hoảng, doanh thu ròng của các ngân hàng đầu tư toàn cầu đã hồi phục.

Trong mảng ngân hàng thương mại, danh sách 5 ngân hàng lớn nhất ở Mỹ vẫn giống như 11 năm trước. Chỉ có nhóm ngân hàng nhỏ hơn là có nhiều xáo trộn: ở Mỹ, đó là sự biến mất của Bear Stearns, Washington Mutual, Wachovia và Countrywide. Ở châu Âu, HBOS của Anh và Dresdner của Đức lần lượt bị Lloyds và Commerzbank thâu tóm.

Nhiều định chế tài chính lớn đã được giải cứu, ở Mỹ là bởi chương trình giải cứu tài sản xấu TARP hay trong trường hợp của RBS và AIG là chính sách quốc hữu hóa. Có hàng tá các ngân hàng nhỏ bị thâu tóm. Ở Tây Ban Nha, từ con số 55 giảm xuống chỉ còn hơn 10. Kết quả là các ngân hàng lớn nhất ngày càng phình to, ở cả châu Âu và Mỹ tỷ trọng nắm giữ tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất đã tăng lên.

Tỷ trọng nhóm cổ phiếu ngân hàng trong vốn hóa của S&P 500 đã giảm từ 10% xuống còn 6%. Nhưng dường như đám mây u ám bao phủ ngành này đã tan đi. Các ngân hàng Mỹ, đặc biệt là Morgan Stanley, mới đây đã báo cáo kết quả kinh doanh rất khả quan. Jamie Dimon, CEO của JPMorgan Chase, thậm chí cho rằng "thời hoàng kim" của các ngân hàng đang quay trở lại. Lợi nhuận bắt đầu cải thiện trong khi nền kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng, chất lượng tín dụng tốt và các luật lệ cũng bớt hà khắc hơn.

Kể cả các ngân hàng châu Âu, dù chậm chạp hơn trong việc rũ bỏ khủng hoảng, cũng đang nhìn về tương lai xán lạn. Hồi tháng 8, ông chủ Jes Staley Barclays, báo cáo một trong những "quý sạch sẽ" (không có ghi giảm tài sản hay những khoản phạt) đầu tiên trong nhiều năm trở lại đây của Barclays. Mức thù lao cao chót vót đang trở lại: năm 2017, ông chủ mới của AIG, Brian Duperreault, được trả 43 triệu USD. Ông Dimon nhận 29,5 triệu USD, Lloy Blankfein của Goldman Sachs nhận 24 triệu USD và Brian Moynihan của Bank of America nhận 23 triệu USD.

Những ông lớn về xếp hạng tín nhiệm – nhóm đã không cảnh báo về những tài sản xấu trong thời kỳ khủng hoảng – vẫn đang chiếm thế thượng phong dù đã có nhiều lợi kêu gọi phải cải tổ. Báo cáo được Ủy ban chứng khoán Mỹ công bố tháng 12/2017 cho thấy Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch tổng cộng vẫn chiếm tới 96,4% thị phần.

Điều không thay đổi đáng chú ý nhất lại nằm ở bộ phận đã khơi mào cho khủng hoảng: các khoản nợ thế chấp ở Mỹ. Trong những năm trước khi khủng hoảng nổ ra, tỷ lệ sở hữu nhà đã tăng lên nhanh chóng, từ 64% lên 69%. Giá nhà cũng tăng vọt. Theo ước tính của Fed chi nhánh St Louis, khủng hoảng nổ ra 9 triệu chủ sở hữu nhà ở Mỹ đã bị tịch thu nhà, tương đương 10% -15% tổng số. Từ 2008 đến 2011, giá 1 căn hộ ở Miami đã giảm gần một nửa, từ 3.720 USD/m2 xuống còn 1.830 USD.

Trong số 55 ngân hàng hoạt động ở hạt Miami-Dade năm 2008, hiện chỉ còn 28 ngân hàng tồn tại. Tuy nhiên, trên mảnh đất phía sau Grove Bank and Trust, ngân hàng lâu đời nhất trong số đó, đã mọc lên 2 tòa tháp mới được thiết bởi kiến trúc sư nổi tiếng Rem Koolhaas. Những căn hộ tại đây được bán với giá cao hơn cả năm 2008.

Bối cảnh hiện tại có nhiều điểm tương đồng với quá khứ, nhưng hệ thống tài chính đã có những thay đổi đáng kể. Trong đó 2 lĩnh vực nổi bật nhất là bảng cân đối kế toán của các ngân hàng và sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan quản lý.

Tỷ lệ vốn cấp 1 – chỉ tiêu thể hiện số vốn mà các ngân hàng sử dụng để tài trợ cho chính mình – đã tăng đáng kể. Ở châu Âu tỷ lệ vốn trên tài sản đã tăng gần 2/3 (từ 8,8% lên 14,7%) và gần 1/3 ở Mỹ (từ 9,8% lên 12,9%). Kết quả là chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đã giảm xuống.

Theo số liệu của Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), các ngân hàng đã tăng đáng kể lượng tiền gửi. Trong giai đoạn 2007 – 2016, các ngân hàng châu Âu – từng lâm vào rắc rối vì phụ thuộc vào nguồn vốn bằng đồng USD trong giai đoạn trước khủng hoảng – đã giảm 40% các khoản tiền gửi từ bên ngoài châu lục. Đặc biệt, các ngân hàng đầu tư châu Âu đã thu hẹp đáng kể so với các đối thủ Mỹ.

Khi nguồn vốn bị thu hẹp và đắt đỏ hơn, các ông chủ ngân hàng cũng cư xử khác đi. Các mảng kinh doanh có tỷ lệ đòn bẩy cao và mức độ biến động lớn, đặc biệt là tự doanh chứng khoán, đã bị thu hẹp đáng kể. Ngược lại các lĩnh vực cần ít vốn và tạo ra lợi nhuận ổn định hơn như quản lý tài sản được chú trọng phát triển.

Các ngân hàng cũng cắt giảm lượng lớn nhân sự hay tìm cách thuê ngoài. Nhiều startup hoạt động trong lĩnh vực fintech đã thay đổi mô hình kinh doanh từ cạnh tranh với ngân hàng truyền thống sang hỗ trợ họ. Ví dụ, ban đầu Zest muốn sử dụng phần mềm để xây dựng danh mục nợ nhưng giờ đây chuyên cung cấp dịch vụ phân tích tín dụng cho các định chế tài chính. Jack Henry & Associates, Fiserv và FIS là 3 công ty cung cấp phần mềm xử lý dữ liệu và mobile-banking cho hàng nghìn định chế tài chính.

Hệ thống giám sát được tăng cường

Văn hóa của ngành ngân hàng cũng đã thay đổi. Lehman từng được lèo lái – và có kết thúc chẳng hề tốt đẹp – bởi những nhân viên được khuyến khích luôn đưa ra các sáng kiến và tạo ra cơ hội mới, kết quả là có quá nhiều rủi ro được tạo ra. Bây giờ các ngân hàng hoạt động theo cơ chế chặt chẽ hơn, quy củ hơn.

Trong bối cảnh các ngân hàng lùi lại, ngày càng có nhiều nguồn tín dụng đến từ bên ngoài hệ thống ngân hàng. Kể từ sau khủng hoảng, lượng trái phiếu dài hạn do các doanh nghiệp phát hành đã tăng lên mạnh mẽ. Các công ty vốn cổ phần tư nhân cũng tham gia vào hoạt động cho vay, với tổng lượng tài sản dưới quyền quản lý (AUM) từ con số 0 tròn trĩnh năm 2006 giờ đã lên đến 200 tỷ USD.

Khủng hoảng đã sản sinh một cấu trúc giám sát mới. Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) là ví dụ điển hình về 1 định chế được trao nhiều quyền hơn và gần như không bị tổn hại sau khủng hoảng. Có lẽ chính việc quyền lực tập trung trong tay Fed là một trong những nguyên nhân giúp các ngân hàng Mỹ hồi phục nhanh hơn so với các ngân hàng châu Âu.

Fed đã tăng số người làm việc trong bộ máy giám sát từ 3.000 lên 4.800 người. Fed thường nói rằng hệ thống tài chính Mỹ trở nên an toàn hơn nhờ các bài kiểm tra "stress test" được triển khai hàng năm, giúp đánh giá mức độ chịu đựng của các ngân hàng trước các cú sốc. Bên cạnh đó Fed còn áp dụng cơ chế giám sát "forward – looking", trong đó có tính đến những giả định về tương lai thay vì chỉ dựa vào các số liệu thống kê có độ trễ.

Tuy nhiên, kể cả với những người tin rằng việc tăng cường giám sát đang mang lại nhiều hiệu quả, ngày nay hệ thống vẫn tồn tại 1 rủi ro lớn: các bên tham gia thị trường tin rằng nếu như tình hình xấu đi một lần nữa thì đã có Chính phủ sẵn sàng giải cứu, do đó có thể chấp nhận rủi ro nhiều hơn một chút. Đó là điều rất nguy hiểm.

Còn đối với Masood, ông vẫn sẽ tiếp tục bán cafe cho những cán bộ ngân hàng làm việc ở số 745. Những vị khách này "sộp" hơn so với các công nhân xây dựng từ thời kỳ xa xưa, nhưng chẳng gì có thể so sánh với những năm tháng hoàng kim trước 2008, khi Masood thường nhận được những khoản tiền bo hậu hĩnh, thậm chí có lúc lên tới 10.000 USD. Ông đã từ chối tấm séc đó vì giá trị của nó quá lớn so với cốc cafe mà mình bán. Nếu các cán bộ ngân hàng cũng nghĩ được như Masood, có lẽ câu chuyện về khủng hoảng tài chính đã không tệ đến vậy.


Tài chính ngân hàng

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 25,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 1,800
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 12,700
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 43,250
ACC CTCP Bê Tông Becamex 21,500
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 33,100
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 4,590
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 11,000
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,410
ANV CTCP Nam Việt 30,400
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 35,000
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 10,300
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,200
BBC CTCP Bibica 76,900
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,790
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 25,200
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 33,550
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 13,850
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 22,500
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 56,700
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 9,790
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 11,800
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 33,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 100,300
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 27,200
C47 CTCP Xây Dựng 47 20,700
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 12,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 3,200
CDC CTCP Chương Dương 15,450
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 26,400
CLC CTCP Cát Lợi 33,950
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 2,690
CLL CTCP Cảng Cát Lái 24,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 15,100
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 25,600
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 7,000
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 17,500
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 15,200
CNG CTCP CNG Việt Nam 25,950
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 56,000
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 15,100
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 156,600
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 23,300
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 24,500
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 69,000
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 6,800
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 9,340
DHA CTCP Hóa An 30,800
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 32,800
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 30,600
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 17,000
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,500
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,100
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 20,800
AME CTCP Alphanam E&C 20,200
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 38,500
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 21,700
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,500
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,900
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 52,500
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 700
B82 CTCP 482 1,000
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,700
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 6,900
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 9,700
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 23,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 4,000
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,000
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 9,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 14,800
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 35,200
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,400
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 13,000
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 9,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 6,000
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 25,100
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 37,200
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 24,700
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 13,900
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 23,000
CKV CTCP COKYVINA 20,900
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,400
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,100
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 5,800
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 35,900
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 18,200
CT6 CTCP Công Trình 6 4,500
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,600
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,700
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 24,700
CVN CTCP Vinam 10,800
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,500
D11 CTCP Địa Ốc 11 14,700
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,100
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 15,800
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 26,800
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 12,500
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,100
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 44,800
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,100
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 2,600
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 4,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 500
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 27,000
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 500
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 900
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 19,200
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 3,600
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 24,300
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 23,500
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,400
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 49,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 16,400
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 4,500
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 600
CFC CTCP Cafico Việt Nam 21,600
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 9,200
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 8,100
CZC CTCP Than Miền Trung 9,400
DAP CTCP Đông Á 20,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 4,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 16,600
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 13,000
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 27,300
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 11,300
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 12,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 12,400
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 9,000
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 18,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 14,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,900
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 16,200
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 2,100
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,000
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 32,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 8,800
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 5,500
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 12,500
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 14,400
HDM CTCP Dệt May Huế 20,700
Xem thêm...
fpt capital mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.