Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 878.67 +9.70 (+1.12%)
  • HNX-Index 114.14 +4.32 (+3.94%)
  • UPCOM-Index 55.59 +0.56 (+1.01%)
Tài chính ngân hàng
Quyết định hạ lãi suất của NHNN sẽ tác động thế nào đến các ngân hàng thương mại và nền kinh tế?
Đăng 15/09/2019 | 13:34 GMT+7  |   CafeF
Theo TS. Phan Minh Ngọc, nếu việc giảm lãi suất chỉ diễn ra trên giấy mà không đi kèm với hành động thực tế của NHNN là sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu vay phù hợp của thị trường đối với các nguồn cho vay của mình thì tác động của nới lỏng chính sách tiền tệ, hay nôm na là bơm tiền vào nền kinh tế, không thực sự diễn ra như lẽ thông thường.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định giảm lãi suất tái cấp vốn từ 6,25% xuống 6%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm từ 7,25%/năm xuống 7,0%/năm. Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở giảm từ 4,75%/năm xuống 4,5%/năm.

Các quyết định nói trên có hiệu lực từ ngày 16/9/2019. Như vậy đây là lần đầu tiên kể từ tháng 10/2017 NHNN mới lại can thiệp trực tiếp đến lãi suất điều hành.

Trước đó hồi trung tuần tháng 8, nhiều chuyên gia cho rằng NHNN sẽ giữ nguyên chính sách lãi suất trong năm nay mặc dù có rất nhiều các ngân hàng trung ương trên thế giới cắt giảm lãi suất. Lãnh đạo cấp Vụ của NHNN khi trả lời phỏng vấn trên chính tờ báo của NHNN cũng khẳng định sẽ không hạ lãi suất.

Bởi vậy, động thái ngày 13/9 vừa qua của NHNN đã làm không ít người cảm thấy bất ngờ, nhưng cũng nhiều ý kiến cho rằng quyết định của NHNN là hết sức hợp lý, phù hợp với diễn biến cả trong và ngoài nước.

Xoay quan động thái trên, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, hiện công tác tại một ngân hàng của Nhật có trụ sở ở Singapore.

PV: Thưa ông, vì sao NHNN lại đưa ra quyết định giảm lãi suất ở thời điểm này?

TS. Phan Minh Ngọc: Đã có một số ý kiến được đưa ra giải thích cho động thái này như việc hạ lãi suất của NHNN là theo chiều hướng chung của các ngân hàng trung ương trên thế giới; lạm phát của Việt Nam vẫn đang ở mức tương đối thấp nên hạ lãi suất cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến lạm phát; và giảm lãi suất sẽ giúp giảm áp lực lên lãi suất cho vay v.v...

Nhưng câu hỏi mà có lẽ nhiều người quan tâm nhất là tại sao việc hạ lãi suất lại xảy ra vào thời điểm này chứ không phải thời điểm một, hai tháng trước đây. Bởi những yếu tố trên đều xuất hiện một thời gian đáng kể chứ không phải vào thời điểm này, tháng này.

Bởi vậy, cần nhìn sự việc trong một bối cảnh rộng hơn chuyện lạm phát và lãi suất cho vay hay xu hướng hạ lãi suất trên thế giới. Ở thời điểm này, điều tỏ ra khác hẳn với những tháng trước đây là xu hướng ổn định, thậm chí lên giá của VND so với USD và tức là với nhiều đồng tiền khác, trái ngược với lo ngại và nhận định của giới chuyên gia cũng như diễn biến thông thường trước đây.

Trong khi đó, như đã thấy, lạm phát tiếp tục ổn định ở mức thấp, lãi suất cả huy động và cho vay có xu hướng tăng. Việc để VND lên giá so với nhiều đồng tiền khác gồm thậm chí cả USD hiển nhiên là điều không có lợi cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nước hạ lãi suất mà mục đích cũng là nhằm làm yếu đồng tiền của mình đi.

Tất nhiên là để điều chỉnh giá trị của VND thì có cách trực tiếp là NHNN mua vào USD như họ bắt đầu thực hiện lại trong thời gian gần đây. Nhưng cách làm này sẽ dễ gây ra chỉ trích từ Mỹ rằng Việt Nam đang thao túng tiền tệ để trục lợi. Nên cách làm này cũng chỉ có, chỉ được dùng giới hạn. Thêm nữa, việc mua vào này mặc dù đã xảy ra, nhưng tác động xem ra chưa đạt mục đích, có thể một phần vì lượng mua vào không thực sự lớn.

Cách thứ hai "an toàn" hơn và cuối cùng vẫn đạt mục đích giảm giá VND là hạ lãi suất cho vay từ các nguồn cung tiền đồng từ NHNN để từ đó chuyển tải tác dụng nới lỏng có mức độ trong chính sách tiền tệ của NHNN đến thị trường tín dụng thứ cấp.

Nếu đúng như cách lý giải trên thì việc NHNN hạ lãi suất là hợp lý, dù có lẽ đây chỉ là bước thăm dò phản ứng thị trường bởi mức giảm khá nhỏ, 0,25 điểm phần trăm so với các mức lãi suất chính sách hiện hành.

Việc hạ lãi suất này có đồng nghĩa với việc sẽ có thêm một khối lượng tiền nhất định được bơm vào nền kinh tế không thưa ông?

Điều này còn tùy NHNN hành động trên thực tế như thế nào. Nếu việc giảm lãi suất chỉ diễn ra trên giấy mà không đi kèm với hành động thực tế của NHNN là sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu vay phù hợp của thị trường đối với các nguồn cho vay của mình thì tác động của nới lỏng chính sách tiền tệ, hay nôm na là bơm tiền vào nền kinh tế, không thực sự diễn ra như lẽ thông thường. Để kiểm định điều này thì cần quan sát diễn biến lãi suất thông dụng như liên ngân hàng, thậm chí lãi suất trái phiếu Kho bạc Nhà nước, xem có tiếp tục đứng vững kéo dài hay không.

Thông thường hạ lãi suất sẽ có tác động ngược lên lạm phát, còn bối cảnh hiện nay của Việt Nam thì sao?

Như đã nói ở trên, ở giai đoạn thăm dò này thì việc hạ lãi suất của NHNN chưa thể gây ra áp lực gia tăng mạnh lên lạm phát, chưa kể nếu NHNN không hành động tích cực trên thực tế (tức sẽ giới hạn cho vay theo lãi suất mới) thì tác động của việc nới lỏng tiền tệ này càng hữu hạn. Tất nhiên ở đây phải đặt giả định rằng mọi yếu tố khác có tác động lên lạm phát (như giá cả thế giới) không biến động đáng kể.

Đối với các thành viên trên thị trường là ngân hàng thương mại, quyết định hạ lãi suất của NHNN sẽ có những tác động gì thưa ông?

Cũng vẫn là câu trả lời "còn tùy". Nếu NHNN sẵn sàng cho vay bất cứ ngân hàng thương mại nào có nhu cầu (hợp pháp) thì đương nhiên là tình hình sẽ "dễ thở" hơn với các ngân hàng thương mại, bởi lãi suất đầu vào giảm (dù nhẹ), còn lãi suất đầu ra vẫn thuộc sự kiểm soát của ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại vẫn là người làm giá chứ không phải doanh nghiệp, người đi vay, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế vẫn tích cực, nhu cầu vay vốn của nền kinh tế vẫn tăng).

Và ngược lại, khi NHNN chỉ hạ lãi suất trên giấy theo kiểu tùy cơ ứng biến thì rõ ràng là tác động của hạ lãi suất lên các ngân hàng thương mại không đáng kể.

Thế còn tác động đến các doanh nghiệp và nền kinh tế thì sao?

Câu trả lời "còn tùy" sẽ được lặp lại vài lần. Ví von tương tự như tưới nước cho cái cây, nếu lượng nước tưới chỉ có một bình con con thì có lẽ xuống được đến cành cuối cùng, hoặc gốc cây chỉ là một vài giọt nước. Lượng tiền sẵn sàng cho vay từ NHNN (với giả thiết là các ngân hàng thương mại xếp hàng để được vay) mà không đáng kể thì nó sẽ đọng lại trước tiên trong hệ thống ngân hàng để giải quyết các vấn đề nội tại của ngân hàng như thanh khoản eo hẹp, dự trữ tụt giảm. Sau đó, lượng tiền còn dư sẽ tiếp tục chảy qua những chỗ ưu tiên của ngân hàng thương mại, không nhất thiết là các doanh nghiệp trong các lĩnh vực "ưu tiên" theo quy định của NHNN. Nói cách khác, nếu liều lượng nới lỏng tiền tệ nhỏ thì tác động thực sự lên nền kinh tế thực cũng sẽ vì thế mà nhỏ đi hơn nữa. 

Xin cảm ơn những nhận xét của ông!


Các chuyên gia phân tích đánh giá thế nào về quyết định hạ lãi suất của NHNN?


Tài chính ngân hàng

S&P hạ bậc tín nhiệm, triển vọng hàng loạt quốc gia nhưng giữ nguyên thứ hạng của Việt Nam có ý nghĩa gì?

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   23/05/2020

Trên toàn thế giới, từ đầu tháng 4 đến nay, S&P Global Ratings (S&P) đã điều chỉnh đánh giá tín nhiệm tiêu cực đối với 32 quốc gia, trong đó 10 quốc gia bị hạ bậc và 22 quốc gia bị hạ triển vọng. Tuy nhiên, với Việt Nam, tổ chức này duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức BB, triển vọng ổn định.


vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 12,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 15,500
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 2,700
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,800
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 33,500
ACC CTCP Bê Tông Becamex 18,550
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 25,200
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,900
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 13,850
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,550
ANV CTCP Nam Việt 18,600
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 17,600
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 5,740
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 5,480
BBC CTCP Bibica 49,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 7,750
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 21,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 41,450
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,400
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,800
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 47,600
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,450
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 14,850
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 40,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 50,700
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 25,300
C47 CTCP Xây Dựng 47 11,400
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 7,600
CDC CTCP Chương Dương 16,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 19,400
CLC CTCP Cát Lợi 27,150
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,300
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 26,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 27,850
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 6,700
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 13,950
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 16,600
CNG CTCP CNG Việt Nam 21,600
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 42,450
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 16,000
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 77,300
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 23,500
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 18,800
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 63,500
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,310
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 21,250
DHA CTCP Hóa An 31,700
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 36,300
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 25,100
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 14,100
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,900
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 1,800
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,200
AME CTCP Alphanam E&C 6,900
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 17,100
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 9,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 4,400
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,500
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 29,600
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 1,100
B82 CTCP 482 400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,700
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,800
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 4,200
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,600
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 11,400
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 14,700
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,300
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 9,500
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,600
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 22,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 29,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 26,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 7,700
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 17,100
CKV CTCP COKYVINA 14,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,300
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,300
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 2,700
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 16,200
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 22,600
CT6 CTCP Công Trình 6 3,200
CTA CTCP Vinavico 100
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 34,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,300
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 9,000
CVN CTCP Vinam 10,400
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 8,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 30,900
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 16,000
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 14,200
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 44,150
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 11,100
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 700
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 27,700
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 2,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 3,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,000
HDO CTCP Hưng Đạo Container 200
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 300
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 400
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 4,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 35,600
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 3,600
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 26,700
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 32,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 23,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,500
BVN CTCP Bông Việt Nam 11,700
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 4,700
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 300
CFC CTCP Cafico Việt Nam 23,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,000
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,300
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 18,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 10,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 40,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 10,200
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 109,800
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 18,800
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 18,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 9,400
DPP CTCP Dược Đồng Nai 16,300
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 27,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,500
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 31,900
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 8,600
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,100
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 31,500
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,600
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 13,800
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,100
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 10,800
HDM CTCP Dệt May Huế 15,700
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2020 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp