Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 -3.86 (-0.28%)
  • HNX-Index 319.73 +0.72 (+0.23%)
  • UPCOM-Index 88.85 +0.03 (+0.03%)
Kinh tế đầu tư
Cân nhắc cẩn trọng việc giảm thuế nhập khẩu ưu đãi thép thành phẩm
Đăng 13/05/2021 | 09:44 GMT+7  |   VietStock
Trong bối cảnh hiện nay, việc đặt vấn đề giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép thành phẩm cần được cân nhắc, tính toán cẩn trọng để vừa góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước phát triển bền vững, vừa bình ổn thị trường thép trong nước, bảo đảm tuân thủ đúng các nguyên tắc được quy định trong luật.

Cân nhắc cẩn trọng việc giảm thuế nhập khẩu ưu đãi thép thành phẩm

Trong bối cảnh hiện nay, việc đặt vấn đề giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép thành phẩm cần được cân nhắc, tính toán cẩn trọng để vừa góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước phát triển bền vững, vừa bình ổn thị trường thép trong nước, bảo đảm tuân thủ đúng các nguyên tắc được quy định trong luật.

* Bộ Xây dựng đề nghị các tỉnh không để xảy ra đầu cơ, thổi giá thép

* Các sàn giao dịch Trung Quốc hành động để hạ nhiệt giá quặng sắt và thép

Giá các loại vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng, cát, đá,... biến động mạnh, có tác động đến các lĩnh vực khác nhau

Nhận diện rõ các nguyên nhân sốt giá

Thời gian qua, giá các loại vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng, cát, đá,... biến động mạnh, có tác động đến các lĩnh vực khác nhau. Điều này không chỉ làm các DN kinh doanh bị giảm doanh thu mà còn khiến cho các công trình xây dựng, nhất là các công trình nhà ở của người dân, cũng bị ảnh hưởng.

Cụ thể, riêng về thép, từ tháng 1/2021, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép thông báo điều chỉnh tăng giá bán khoảng từ 300-900 đồng/kg tùy theo chủng loại và nhà sản xuất. Trong tháng 4/2021, mức tăng khoảng 1,600-1,700 đồng/kg tùy từng chủng loại. Hiện nay, giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức khoảng từ 16,200-17,800 đồng/kg tùy chủng loại và nhà sản xuất (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng).

Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Công Khôi, Phó Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho rằng, giá thép xây dựng tăng trong giai đoạn vừa qua có sự tác động của biến động tăng giá phôi thép trên thị trường thế giới. Do nhu cầu từ thị trường Trung Quốc tăng mạnh khiến cho giá nguyên liệu thô sản xuất thép như thép phế, phôi thép từ khoảng giữa tháng 10/2020 đến nay liên tục tăng. Theo khảo sát, nắm bắt thông tin thì giá chào phôi, thép phế trên thị trường thế giới ở thời điểm hiện tại tăng khoảng 37-39% so với tháng 10/2020.

Trong đó, giá chào bán phôi thép thị trường thế giới tháng 4/2021 tăng khoảng 50-55 USD/tấn so với cuối tháng 3/2021… Riêng trong tháng 4/2021, giá phôi nội địa tăng khoảng 1,450 đồng/kg, giá thép phế tăng khoảng 1,200 đồng/kg.

Còn theo thông tin từ Bộ Xây dựng, ngoài giá phôi tăng, nguyên nhân mất cân đối về cung-cầu, nguồn cung về vật liệu thép xây dựng khan hiếm cũng làm tăng giá thép.

Cụ thể, qua khảo sát các đại lý bán lẻ mặt hàng sắt, thép xây dựng tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, thì ngoài việc tăng giá thép vào thời điểm cuối năm mang tính chu kỳ do nhu cầu xây dựng, sửa chữa gia tăng và do việc khởi công một số công trình trọng điểm sử dụng vốn đầu tư công, thì năm nay giá thép có yếu tố bất thường hơn do lượng thép thành phẩm nhập khẩu giảm, thép trong nước sản xuất không đủ cung. Trong khi đó sản lượng xuất khẩu thép tăng mạnh cũng làm tăng sức ép từ tổng cầu thép trong nước, đặc biệt là thép thành phẩm.

Về cơ cấu, loại thép thanh trong nước đã sản xuất được nhưng số lượng còn hạn chế và phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, dẫn đến phụ thuộc nhiều vào thép nhập khẩu trong khi sản lượng nhập khẩu giảm, dễ mất cân bằng cung cầu thép xây dựng trong nước.

Ông Đặng Công Khôi cho biết, theo quy định quy định tại Luật Giá và các văn bản hướng dẫn thì các mặt hàng thép xây dựng, xi măng, cát, đá... không nằm trong danh mục các mặt hàng Nhà nước quản lý giá. Vì vậy, quan điểm của Bộ Tài chính là cần ưu tiên các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng lợi dụng tăng giá nguyên liệu đầu vào để tăng giá bất hợp lý.

Điều hành “lựa” theo quy luật thị trường

Trước việc giá thép tăng cao, vừa qua, Bộ Công Thương đã đề nghị Thủ tướng chỉ đạo một số bộ có cơ chế hỗ trợ, trong đó có đề nghị Bộ Tài chính có chính sách điều tiết thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng thép có biến động lớn về giá.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) cho hay, để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước trong việc hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh với thép nhập khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với nguyên liệu để sản xuất thép được quy định ở mức thấp là 0% (nhóm 72.03), 3% (nhóm 72.04) và 1% đối với phôi thép (nhóm 72.06). Việc quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thép thấp trong thời gian qua đã góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước giảm giá thành đầu vào và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Đối với thuế nhập khẩu thép thành phẩm, hiện mặt hàng thép xây dựng thuộc nhóm 72.13 đến 72.16 có mức thuế suất thuế MFN là 15% đối với thép hình, thép góc và 20% đối với thép dạng thanh que. Những mặt hàng này nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc và từ Ấn Độ. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang là thành viên của 14 Hiệp định thương mại tự do, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt tại một số Hiệp định này đối với các mặt hàng thép xây dựng tương đối thấp như Hiệp định ASEAN (ATIGA), Việt Nam-Nhật Bản (VJFTA), Việt Nam Hàn Quốc (VKFTA)…

Như vậy, có thể thấy mức thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng thép đã được quy định trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của luật, đồng thời phù hợp với thực trạng phát triển của ngành thép trong nước cũng như cam kết về cắt giảm thuế quan khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và khi tham gia các Hiệp định FTA.

Ngoài ra, ông Trương Bá Tuấn cho biết, vừa qua Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 918/QĐ-BCT ngày 20/3/2020 về việc tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam thêm 3 năm.

Theo đó, các chủng loại phôi thép nhập khẩu được áp dụng mức thuế suất thuế tự vệ ở mức 15.3% từ ngày 22/3/2020 đến ngày 21/3/2021; 13.3% từ ngày 22/3/2021 đến ngày 21/3/2022 và 11.3% từ ngày 22/3/2022 đến ngày 21/3/2023. Còn đối với các sản phẩm thép dài nhập khẩu vào Việt Nam, mức thuế tự vệ được áp dụng tương ứng cho từng giai đoạn là 9.4%; 7.9% và 6.4%. Động thái này nhằm ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước.

Phó Vụ trưởng Trương Bá Tuấn cho rằng, Việt Nam có thể xem xét việc điều chỉnh chính sách thuế tự vệ đối với phôi thép và các sản phẩm thép xây dựng trong giai đoạn hiện nay để giảm giá thành nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất thép và giá thép xây dựng bán ra trên thị trường trong nước.

“Tuy vậy, trong bối cảnh hiện nay, việc đặt vấn đề giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép thành phẩm cần được cân nhắc, tính toán cẩn trọng để vừa góp phần thúc đẩy ngành thép trong nước phát triển bền vững, bình ổn thị trường thép trong nước, bảo đảm tuân thủ đúng các nguyên tắc được quy định trong Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016. Quan trọng là cần phải có các giải pháp để cân đối cung cầu, nâng cao năng lực sản xuất thép trong nước”, ông Trương Bá Tuấn nói.

Còn ông Đặng Công Khôi, Phó Cục trưởng Cục Quản lýgiá cho hay, CPI mỗi tháng còn dư địa tăng 0.66% để đảm bảo mục tiêu kiểm soát dưới 4%. Tuy nhiên, vẫn còn tiềm ẩn rủi ro đối với công tác kiểm soát lạm phát do tình hình thế giới như giá nhiên liệu, phôi thép, thép phế thế giới có thể diễn biến tăng cao đột biến làm giá trong nước tăng theo.

Để góp phần giải quyết vấn đề trong dài hạn, đại diện Cục Quản lý giá cho rằng cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy trình để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Giá cho phù hợp với quan điểm, nguyên tắc và tính thống nhất, đồng bộ trong xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế thị trường, phát triển kinh tế xanh và bền vững. Qua đó, hướng đến mục tiêu khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế phát sinh trong thời gian qua, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá.

Trước đó, định hướng cho việc điều hành giá trong bối cảnh hiện nay, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã kịp thời có ý kiến chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương có liên quan triển khai các giải pháp theo chức năng nhiệm vụ về công tác điều hành giá năm 2021.Trong đó, đối với mặt hàng thép xây dựng, lãnh đạo Chính phủ đã giao Bộ Công Thương nghiên cứu có các biện pháp thúc đẩy tăng năng lực sản xuất thép thành phẩm trong nước, hướng tới đáp ứng được cơ bản nhu cầu trong nước; nghiên cứu điều chỉnh sự mất cân đối cung ứng sản phẩm thép trên thị trường để ưu tiên thị trường trong nước thông qua việc điều chỉnh, cân đối khối lượng xuất khẩu thép thành phẩm; giao Bộ Xây dựng chủ động nghiên cứu, hướng dẫn thay đổi công nghệ xây dựng nhằm giảm tải lượng thép tiêu thụ trong các công trình xây dựng…

Liên quan đến việc giá thép “lên đồng”, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, dù việc tăng giá thép có nguyên nhân khách quan từ thế giới nhưng Việt Nam tăng như vậy là khá cao. Còn quá sớm để nói rằng không có sự “bắt tay” của một số DN ngành thép nhằm đẩy giá lên cao. Hơn nữa, có thể có hiện tượng “té nước theo mưa”, khi các DN đua nhau tăng giá, hoặc có không ít nhà thầu phản ánh về việc gặp khó khi nhà cung cấp “găm hàng” chờ đẩy giá. “Cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là quản lý thị trường, chống gian lận thương mại, bảo vệ pháp luật cần có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn, kiểm tra, thanh tra, để có minh chứng cụ thể, khách quan hơn về thị trường. Nếu phát hiện có sự thao túng, liên kết cùng nâng giá, cần có biện pháp xử lý bảo đảm thị trường phát triển lành mạnh, công bằng”, ông Ngô Trí Long nói.

Nhật Quang

FILI


Kinh tế đầu tư

Thị trường nguyên vật liệu bước vào chu kỳ tăng giá mới

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   2 ngày trước

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất đang có xu hướng tăng mạnh. Trong đó, đáng lưu ý là nhóm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và nhóm sản phẩm sắt thép đang tăng cao. Tuy nhiên, các giải pháp giúp ổn định thị trường trong ngắn hạn sẽ khó có thể thực hiện khi diễn biến thị trường nằm ngoài tầm kiểm soát của các chính sách điều hành.

Việt Nam nghiên cứu sản xuất vaccine 1 liều tiêm  

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   12/06/2021

Tập đoàn VinGroup đã thảo luận, đàm phán với Nhà sản xuất Hoa Kỳ về điều kiện chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine COVID-19 từ tinh chất mRNA. Hiện vaccine đã kết thúc thử nghiệm giai đoạn 1, 2. Vaccine này chỉ cần tiêm 1 liều duy nhất 5 mg, có khả năng bảo vệ cao

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 12,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,000
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 26,200
ACC CTCP Bê Tông Becamex 14,800
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 12,900
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,700
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 28,800
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 13,800
ANV CTCP Nam Việt 28,800
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 21,500
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 13,650
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 7,100
BBC CTCP Bibica 68,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 12,300
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 24,450
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 44,500
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 16,450
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 33,050
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 58,700
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 13,050
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 17,500
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 52,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 60,400
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 26,400
C47 CTCP Xây Dựng 47 11,200
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 16,850
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 13,100
CDC CTCP Chương Dương 13,600
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 18,550
CLC CTCP Cát Lợi 34,100
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,400
CLL CTCP Cảng Cát Lái 31,500
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 34,200
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 36,300
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 19,000
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 12,950
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 15,600
CNG CTCP CNG Việt Nam 23,500
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 45,800
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,650
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 63,000
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 52,300
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 15,150
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 55,600
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,840
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 52,000
DHA CTCP Hóa An 43,500
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 106,100
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 33,750
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 22,100
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 11,100
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 3,100
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 23,500
AME CTCP Alphanam E&C 8,800
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 10,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 21,600
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,900
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 15,300
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 44,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 4,100
B82 CTCP 482 1,200
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,400
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 11,700
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,800
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 26,100
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 7,900
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 6,700
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,300
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 10,700
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,000
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 16,200
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 6,800
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 29,800
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 12,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 4,600
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 38,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 55,500
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 42,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 10,300
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,000
CKV CTCP COKYVINA 13,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,500
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,900
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,200
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 19,000
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 52,500
CT6 CTCP Công Trình 6 6,300
CTA CTCP Vinavico 1,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 4,400
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 8,100
CVN CTCP Vinam 9,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 7,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 25,500
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 17,100
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 20,000
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 55,800
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 15,200
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 2,500
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 40,100
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 9,200
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 12,000
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,900
HDO CTCP Hưng Đạo Container 900
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 900
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 2,100
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 900
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 2,100
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 9,800
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 4,900
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 52,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 33,200
ADP CTCP Sơn Á Đông 28,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 13,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,800
BVN CTCP Bông Việt Nam 12,800
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 9,800
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,200
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,000
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,600
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 8,800
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 41,700
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 11,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 28,900
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 15,700
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 20,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 22,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 21,200
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 30,200
DPP CTCP Dược Đồng Nai 17,500
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,400
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 42,800
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,800
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 21,000
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 4,800
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 1,300
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 29,800
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,000
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 6,000
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 17,900
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 19,200
HDM CTCP Dệt May Huế 18,500
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2021 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp