Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +1.30 (+0.11%)
  • HNX-Index 278.88 +1.19 (+0.43%)
  • UPCOM-Index 88.18 -0.41 (-0.46%)
Kinh tế quốc tế
Chẳng quốc gia nào đứng bên lề, nền kinh tế toàn cầu liệu có đang tiến tới bước đường suy thoái?
Đăng 24/05/2022 | 09:18 GMT+7  |   CafeF
Trung Quốc đóng cửa do Covid-19, lãi suất ở Mỹ tăng và cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt ở châu Âu đang khiến triển vọng tăng trưởng toàn cầu suy giảm.
Thế giới bất ổn

Các nền kinh tế đang bất ổn theo những cách riêng của mình. Triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi việc đóng cửa để ngăn chặn Covid-19, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có nguy cơ biến thời kỳ bùng nổ của Mỹ thành suy thoái, và các hộ gia đình ở Châu Âu đang phải chịu đựng cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt. Tình hình còn tồi tệ hơn ở nhiều thị trường mới nổi, nơi các cuộc khủng hoảng lương thực và thậm chí cả nạn đói đang vẫy gọi.

Các vấn đề này đeo bám khi nền kinh tế toàn cầu phục hồi sau đại dịch. Theo Robin Brooks, nhà kinh tế trưởng của Viện Tài chính Quốc tế, sự kết hợp của những cú sốc này cho thấy nền kinh tế thế giới đang gặp khó khăn. Ông nói: "Chúng ta đang ở trong một mối lo suy thoái toàn cầu khác, chúng tôi nghĩ lần này là thật".

Công nhân thành phố khử trùng một khu vực xét nghiệm Covid ở Bắc Kinh

Thị trường tài chính dần trở nên hoảng loạn. Chỉ số chứng khoán thế giới MSCI đã giảm hơn 1,5% trong tuần qua, hơn 5% trong tháng 5 và hơn 18% kể từ mức đỉnh vào đầu tháng 1. Dhaval Joshi, chiến lược gia trưởng tại BCA Research, lưu ý rằng trước thời điểm kinh hoàng đối với cổ phiếu, đã có sự bán tháo trái phiếu, trái phiếu chính phủ chống lạm phát, kim loại công nghiệp, vàng và tiền điện tử.

"Lần cuối cùng việc ‘bán tháo mọi thứ’ xảy ra là vào đầu năm 1981, khi Fed của Paul Volcker đã dùng lãi suất với liều lượng mạnh để cắt cơn lạm phát 2 con số và biến lạm phát đình trệ thành một cuộc suy thoái hoàn toàn", ông Joshi nói.

Xác định một cuộc suy thoái toàn cầu không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Đối với từng quốc gia, một số nhà kinh tế định nghĩa "suy thoái kỹ thuật" là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội trong hai quý liên tiếp. Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Mỹ lại thích một định nghĩa linh hoạt hơn, suy thoái là "sự giảm đáng kể hoạt động kinh tế nói chung xảy ra trong toàn bộ nền kinh tế tại một khoảng thời gian nhất định".

Sản lượng và mức chi tiêu của Trung Quốc giảm

Ở quy mô toàn cầu, rất khó để đưa ra được các định nghĩa thống nhất. IMF và Ngân hàng Thế giới thích mô tả một cuộc suy thoái toàn cầu là một năm mà thu nhập thực tế trung bình của công dân toàn cầu bị giảm. Họ nêu bật các năm 1975, 1982, 1991, 2009 và 2020 là năm cuộc suy thoái toàn cầu đã diễn ra.

Triển vọng tăng trưởng giảm

Dự đoán tăng trưởng toàn cầu chính thức cho năm 2022 vẫn còn xa so với định nghĩa này, vào tháng 4, IMF dự kiến mức ​​tăng trưởng năm nay là 3,6%. Khi xem xét mức tăng trưởng dự kiến ​​trong năm 2022, quỹ đã giảm dự báo lạm phát từ 4,5% hồi tháng 10 năm ngoái xuống 2,5% vào tháng 4.

Ông Brooks cho rằng con số lạm phát này đã đủ để hạ dự báo tăng trưởng năm 2022 xuống 0,5%, ít hơn mức tăng dân số dự kiến. Ông nói: "Việc gắn kết rủi ro suy thoái toàn cầu là điều cần chú ý hàng đầu đối với các thị trường, điều này gây ảnh hưởng quan trọng đến tâm lý nhà đầu tư".

Hầu hết các nhà kinh tế đều lo ngại về triển vọng của nền kinh tế lớn Trung Quốc. Chiếm 19% tổng sản lượng của thế giới, Trung Quốc hiện lớn đến mức khi đóng cửa vì Covid-19, các nước khác trên thế giới cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, chủ yếu là do tác động của nước này đối với chuỗi cung ứng toàn cầu và nhu cầu hàng hóa và dịch vụ từ các quốc gia khác.

Các hộ gia đình ở nhiều nền kinh tế tiên tiến phải đối mặt với cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt

Với các chốt kiểm dịch trên khắp đất nước, những con tàu xếp hàng dài bên ngoài các cảng của Trung Quốc. Doanh số bán lẻ trong tháng 4 giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái, sản xuất công nghiệp giảm 3%. Giá trị tiêu thụ trong nước vào tháng trước cũng giảm nhiều hơn so với đầu năm 2020, dù Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã nới lỏng chính sách tiền tệ để khuyến khích vay và chi tiêu. Tỷ lệ thất nghiệp đang gia tăng.

Kevin Xie, nhà kinh tế cấp cao về châu Á tại Commonwealth Bank of Australia, cho biết dữ liệu kinh tế của Trung Quốc trong tháng 4 liên tục gây thất vọng. Triển vọng tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào tình hình dịch bệnh. Ông nói thêm: "Số lượng việc làm giảm, cùng với niềm tin giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình suy yếu sẽ hạn chế chi tiêu, ảnh hưởng không tốt cho triển vọng tăng trưởng".

Nền kinh tế Mỹ cũng đang phải gánh chịu di chứng của đại dịch. Đặc biệt, kích thích tài khóa quá mức đã khiến nền kinh tế nóng lên và tạo ra lạm phát cao ngay cả khi giá năng lượng tăng vừa phải. Khi thị trường lao động bị thắt chặt, Fed đã buộc phải nhận lỗi và quyết định chuyển sang giai đoạn thắt chặt chính sách tiền tệ để làm chậm tăng trưởng và hạ mức lạm phát.

Chủ tịch Fed Jay Powell trong tuần này đã nói rõ rằng ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục tăng lãi suất cho đến khi có bằng chứng "rõ ràng và thuyết phục" cho thấy lạm phát đang quay trở lại mục tiêu 2%. Ông không quan tâm đến việc tỷ lệ thất nghiệp tăng lên "một chút" so với mức thấp hiện tại là 3,6%.

Ông Powell nói thêm rằng ông đang nhắm đến mục tiêu "hạ cánh mềm" cho nền kinh tế, nhưng nhiều người trên thị trường tài chính cho rằng điều đó có thể khó đạt được. Krishna Guha, phó chủ tịch Evercore ISI, cảnh báo rằng những dự đoán từ các quan chức, nhà kinh tế và những người tham gia thị trường sẽ trở thành một lời tiên tri và tạo ra suy thoái.

"Một cuộc hạ cánh nhẹ nhàng là có thể xảy ra, nhưng không ai có thể chắc chắn", ông Guha nói. Mặc dù không dự đoán Mỹ sẽ suy thoái, nhưng ông Guha cho rằng "sẽ có nhiều thử thách trong việc đưa lạm phát về mức trong tầm kiểm soát mà không gây nên suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng".

Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, vấn đề khó khăn không kém của châu Âu lại khác. Ngoài Vương quốc Anh, lạm phát hầu như bắt nguồn từ giá năng lượng cao do nền kinh tế phát triển quá nóng và có thể bắt nguồn trực tiếp từ căng thẳng Nga-Ukraine.

Giá lương thực tăng nhanh chóng đang ảnh hưởng đến các nước nghèo hơn

Tuy nhiên, việc tìm ra nguyên nhân gây ra vấn đề của Châu Âu không thể làm giảm bớt hậu quả của nó. Với mức lạm phát 7,4% trong tháng 4, giá cả khu vực đồng euro đang tăng nhanh hơn nhiều so với thu nhập của người dân, ảnh hưởng đến mức sống và làm chậm tốc độ phục hồi sau đại dịch. Các dự báo mới từ Ủy ban Châu Âu trong tuần này đã được thu hẹp lại một cách mạnh mẽ, ngụ ý về tình trạng trì trệ trong quý 2 năm 2022.

Ủy ban kỳ vọng nền kinh tế sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này và trở lại mức tăng trưởng hợp lý khoảng nửa phần trăm mỗi quý vào mùa hè, nhưng nhiều nhà kinh tế khu vực tư nhân cho rằng tác động lên thu nhập sẽ lâu dài. Christian Schulz, nhà kinh tế học tại Citi, nói rằng các dự báo chính thức có vẻ quá lạc quan và nhiều khả năng "hầu như không có tăng trưởng trong những tháng còn lại của năm".

Mất an ninh lương thực

Khi châu Âu gặp khó khăn trong việc điều chỉnh theo giá năng lượng tăng cao, các nước nghèo hơn lại phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng của giá lương thực. Lĩnh vực này vốn chiếm hơn 30% chi tiêu ở các nền kinh tế mới nổi.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres ở Irpin, Ukraine

Với việc các cảng ở Biển Đen mà Ukraine sử dụng để xuất khẩu ngũ cốc bị đóng cửa, lo ngại về một cuộc khủng hoảng lương thực vào cuối năm nay đang gia tăng. António Guterres, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, cho biết căng thẳng ở Ukraine "có nguy cơ đẩy hàng chục triệu người vào bờ vực mất an ninh lương thực, sau đó là suy dinh dưỡng và nạn đói hàng loạt".

Sri Lanka là minh chứng cho những tác động mà nhiều quốc gia nghèo nhất thế giới phải đối mặt khi tuyên bố vỡ nợ nước ngoài trong tuần này. Điều này cho thấy việc sử dụng đồng tiền được phát hành bởi một quốc gia có nền chính trị và kinh tế ổn định để nhập khẩu nhiên liệu, thực phẩm và thuốc là cần thiết. Trong khi đó, Ấn Độ đã làm gia tăng vấn đề ở các nền kinh tế mới nổi khác khi cấm xuất khẩu ngũ cốc trong tuần này, giá lúa mì tăng hơn 60% trong năm nay.

Thị trường giảm do lo ngại lạm phát

Đương nhiên, khi rủi ro suy thoái gia tăng, tin tốt nhất cho nền kinh tế toàn cầu sẽ là việc căng thẳng Nga-Ukraine chấm dứt và Trung Quốc ngừng áp dụng chiến lược Zero-Covid. Tuy nhiên, điều này rất khó xảy ra, vì vậy, các bộ trưởng và quan chức kinh tế sẽ phải sẵn sàng đối mặt với những tình huống khó khăn.

Phần lớn các nhà kinh tế học cho rằng cuộc phòng thủ chống lại suy thoái toàn cầu sẽ vẫn giành được thắng lợi vào năm 2022. Nhưng các nhà kinh tế đang ngày càng bớt lạc quan khi đối mặt với những tin xấu không ngừng.

Innes McFee, nhà kinh tế trưởng toàn cầu tại Oxford Economics, cho rằng suy thoái kinh tế vẫn chưa thể xảy ra vào lúc này vì các nhà hoạch định chính sách vẫn có các công cụ để kìm hãm và kích thích nếu mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Ông nói: "Rủi ro suy thoái sẽ gia tăng trong năm tới, nhưng không phải vào thời điểm này".

Tham khảo FT

Những sự kiện đáng chú ý trong tuần tới: Lạm phát thế giới tăng, rủi ro suy thoái kinh tế và chứng khoán chịu sức ép! https://cafef.vn/chang-quoc-gia-nao-dung-ben-le-nen-kinh-te-toan-cau-lieu-co-dang-tien-toi-buoc-duong-suy-thoai-20220524064838658.chn

Kinh tế quốc tế

WSJ: Chứng khoán Mỹ bước vào thị trường giá xuống nhưng vẫn chưa chạm đáy, tất cả phụ thuộc vào Fed!

Kinh tế quốc tế  |   CafeF  |   21/06/2022

Một tuần đỏ lửa khác lại diễn ra trên thị trường chứng khoán Mỹ, khiến nhà đầu tư tự hỏi rằng liệu diễn biến này sẽ còn kéo dài bao lâu nữa. Nếu căn cứ theo những gì từng diễn ra trong quá khứ, đà bán tháo hiện tại vẫn chỉ đang ở giai đoạn đầu.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 24,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 8,100
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,150
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 38,850
ACC CTCP Bê Tông Becamex 14,100
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 24,400
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,900
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 26,200
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 9,800
ANV CTCP Nam Việt 51,600
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 18,450
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 15,000
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,550
BBC CTCP Bibica 75,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 8,890
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 27,300
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 35,050
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,900
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 30,000
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 57,200
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 12,950
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 23,900
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 16,850
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 45,500
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 53,100
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 24,800
C47 CTCP Xây Dựng 47 13,350
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 27,700
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 9,860
CDC CTCP Chương Dương 17,100
CIG CTCP COMA 18 6,450
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 16,250
CLC CTCP Cát Lợi 36,500
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,100
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,450
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 35,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 62,000
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 17,800
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 12,550
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 16,950
CNG CTCP CNG Việt Nam 36,500
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 46,600
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,400
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 53,800
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 26,950
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 13,100
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 41,300
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,310
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 25,000
DHA CTCP Hóa An 36,450
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 67,000
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 24,050
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 20,500
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 18,300
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 5,900
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 24,000
AME CTCP Alphanam E&C 10,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 8,100
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 37,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 8,900
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 13,800
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 45,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 12,500
B82 CTCP 482 1,000
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 12,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 14,000
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 11,500
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,700
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 10,900
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 4,400
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 6,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 10,700
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 13,700
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 7,700
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 18,600
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 13,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 4,600
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 65,800
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 71,500
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 56,500
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 28,000
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,000
CKV CTCP COKYVINA 21,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 8,100
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,100
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 10,000
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 17,900
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 54,500
CT6 CTCP Công Trình 6 6,600
CTA CTCP Vinavico 2,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 24,900
CTC CTCP Gia Lai CTC 4,300
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 7,500
CVN CTCP Vinam 6,200
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 10,200
D11 CTCP Địa Ốc 11 15,300
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 24,000
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 24,000
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 20,950
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 11,600
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 5,900
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 46,900
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 35,000
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 8,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,200
HDO CTCP Hưng Đạo Container 900
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 1,100
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 2,000
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,800
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 2,900
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 8,400
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 6,700
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 47,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 40,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 23,100
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 17,200
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 9,200
BVN CTCP Bông Việt Nam 10,900
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 12,000
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,600
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 12,300
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,000
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 35,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 14,100
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 35,600
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 12,800
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 15,400
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 16,200
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 23,100
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 18,200
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 6,700
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 45,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 8,500
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 31,400
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 14,200
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 5,800
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 28,800
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,000
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 7,600
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 14,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 29,500
HDM CTCP Dệt May Huế 27,500
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2022 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp