Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +16.45 (+1.27%)
  • HNX-Index 314.93 +0.08 (+0.03%)
  • UPCOM-Index 87.35 +0.42 (+0.48%)
Kinh tế đầu tư
Chưa thể “đoạn tuyệt” nhiệt điện than, thậm chí cần xây thêm để đảm bảo năng lượng?
Đăng 15/06/2021 | 09:36 GMT+7  |   VietStock
Đến năm 2030, tổng công suất đặt nguồn điện của Việt Nam đạt 137.200 MW, trong đó nhiệt điện than vẫn chiếm khoảng 27%. Quy mô các nhà máy nhiệt điện than đưa vào giai đoạn 2021-2035 đều là những dự án chắc chắn xây dựng...

Chưa thể “đoạn tuyệt” nhiệt điện than, thậm chí cần xây thêm để đảm bảo năng lượng?

Đến năm 2030, tổng công suất đặt nguồn điện của Việt Nam đạt 137.200 MW, trong đó nhiệt điện than vẫn chiếm khoảng 27%. Quy mô các nhà máy nhiệt điện than đưa vào giai đoạn 2021-2035 đều là những dự án chắc chắn xây dựng...

Trong hàng loạt hội nghị, hội thảo gần đây liên quan đến phát triển năng lượng, đa số các ý kiến đều cho rằng nhiệt điện than là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường cần phải loại bỏ. Thế nhưng, nếu nhìn vào thực tế tình hình cung cấp điện hiện nay thì rõ ràng đây vẫn là nguồn năng lượng rất quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống điện quốc gia.

Quy hoạch Phát triển điện lực Quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 tầm nhìn 2045 (Quy hoạch Điện VIII) nêu rõ, đến năm 2030, tổng công suất đặt nguồn điện của Việt Nam đạt 137.200 MW, trong đó nhiệt điện than vẫn chiếm khoảng 27%. Năm 2045, tổng công suất đặt của nguồn điện đạt 276.700 MW, trong đó nhiệt điện than chiếm 18%...

KHÓ KHĂN ĐỂ THU XẾP VỐN

Tại một số buổi tọa đàm trực tuyến về Quy hoạch điện VIII do các tổ chức xã hội tổ chức mới đây, nhiều chuyên gia cùng chung nhận định, tiếp tục phát triển các dự án điện than mới đến năm 2045 là trái với xu thế mới của khu vực và toàn cầu, rất khó khả khi vì nguồn tài chính quốc tế cho điện than ngày càng khó khăn hơn, nhiệt điện than ngày càng đắt đỏ hơn, các địa phương và người dân không ủng hộ.

Theo bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) kiêm Chủ tịch Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA), việc tiếp tục phát triển điện than theo Quy hoạch điện VIII là rất khó khả thi để triển khai trong bối cảnh nguồn tài chính cho nhiệt điện than ngày càng thắt chặt.

"Nếu tiếp tục đưa những dự án này vào quy hoạch thì nguy cơ cao sẽ lặp lại sai lầm của Quy hoạch điện VII điều chỉnh và ảnh hưởng lớn tới việc đảm bảo cung cấp điện, bỏ lỡ cơ hội thu hút nguồn vốn xanh", bà Khanh lưu ý.

Đáng chú ý, trong kiến nghị gửi lên lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và các bộ, ngành góp ý về Quy hoạch điện VIII mới đây, VSEA cũng nêu lên thực tế, mặc dù đã được hưởng cơ chế đặc thù theo Quyết định 2414/TTg về việc điều chỉnh danh mục, tiến độ một số dự án điện và quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư các công trình điện cấp bách trong giai đoạn 2013 – 2020, song có tới 16/34 dự án điện than vẫn không đi vào vận hành đúng tiến độ và tiếp tục bị đẩy lùi thêm nhiều năm trong dự thảo Quy hoạch điện VIII.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới chậm tiến độ của các dự án nhiệt điện than là việc tiếp cận nguồn tài chính ngày càng khó khăn. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai trong số ba quốc gia vẫn còn đầu tư cho nhiệt điện than ở Việt Nam đã chính thức tuyên bố dừng cấp vốn cho các dự án điện than mới. Như vậy, áp lực cấp vốn sẽ đặt lên vai các ngân hàng trong nước.

Phân tích cụ thể hơn, ThS. Phạm Xuân Hòe – nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), cho rằng những dự án nhiệt điện than dang dở chậm tiến độ chủ yếu là do không thu xếp được nguồn vốn. Việc các ngân hàng thương mại cho vay các dự án nhiệt điện than sẽ vượt xa mức cho vay 15% vốn tự có cho một khách hàng hoặc 25% cho một nhóm khách hàng.

"Điều này sẽ mang đến nhiều rủi ro cho các ngân hàng thương mại, đi ngược lại với xu thế phát triển ngân hàng xanh, ngân hàng bền vững trên toàn thế giới và có thể đe dọa sự phát triển của cả nền kinh tế Việt Nam. Tiếp tục phát triển nhiệt điện than là sự vay mượn của các thế hệ tương lai, chuyển rủi ro cho tương lai" ThS. Hòe nhấn mạnh.

VÌ SAO VẪN CẦN PHẢI PHÁT TRIỂN?

Mặc dù nhiệt điện than đang mang lại những lo ngại, song việc phát triển nguồn năng lượng này vẫn cần thiết trong bối cảnh nhu cầu điện cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ngày càng tăng cao.

Để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện với chi phí không quá cao, hệ thống điện quốc gia vẫn cần phải xây dựng các nhà máy nhiệt điện than. Bởi nếu chọn năng lượng tái tạo sẽ có nhiều rủi ro, vì đây là nguồn năng lượng thiếu ổn định do phụ thuộc vào thời tiết, còn phát triển nhiệt điện khí hóa lỏng thì chi phí sẽ khá lớn và giá điện theo đó sẽ tăng cao hơn nhiều.

Chính vì thế, trong Quy hoạch điện VIII vẫn dành một phần công suất nhất định cho nhiệt điện than. Cụ thể, đến năm 2030 nhiệt điện than vẫn chiếm 27% trong tổng công suất lắp đặt nguồn điện; đến năm 2035 sẽ giảm xuống 23% và tiếp tục giảm xuống 21% và 18% trong vào năm 2040 và 2045.

Như vậy, trong giai đoạn đến năm 2030 và các năm sau, nguồn nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn điện, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế – xã hội.

Theo giải trình của Viện Năng lượng Việt Nam - đơn vị xây dựng Quy hoạch điện VIII, quy mô các nhà máy nhiệt điện than đưa vào giai đoạn 2021-2035 đều là những dự án chắc chắn xây dựng. Đây là những dự án đã thực hiện, công tác xúc tiến đầu tư tốt, không thể loại bỏ.

Ví dụ như nhà máy nhiệt điện Nam Định I, Thái Bình II, Vũng Áng II, Vân Phong I, Duyên Hải II, Vĩnh Tân III.... Sau năm 2035, hệ thống vẫn cần tiếp tục phát triển một phần nhỏ nhiệt điện than để đảm bảo tiêu chí an ninh năng lượng, giá điện không tăng quá cao.

Trong bối cảnh việc phát triển ngành điện vừa phải đáp ứng nhu cầu điện, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, vừa phải giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Quy hoạch điện VIII cũng yêu cầu rất rõ, các nhà máy nhiệt điện than trong giai đoạn 2021-2025 chỉ xây dựng công nghệ nhiệt điện than siêu tới hạn trở lên.

Giai đoạn từ 2025-2035, chỉ xây dựng nhiệt điện than trên “siêu tới hạn” trở lên và sau năm 2035 chỉ xây dựng nhiệt điện than trên “siêu tới hạn” cải tiến.

Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện với chi phí không quá cao, hệ thống điện quốc gia vẫn cần phải xây dựng các nhà máy nhiệt điện than. Bởi nếu chọn năng lượng tái tạo sẽ có nhiều rủi ro, vì đây là nguồn năng lượng thiếu ổn định do phụ thuộc vào thời tiết, còn phát triển nhiệt điện khí hóa lỏng thì chi phí sẽ khá lớn và giá điện theo đó sẽ tăng cao hơn nhiều.

GIẢI BÀI TOÁN NGUỒN THAN NHẬP KHẨU

Vấn đề đặt ra đối với các dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch điện VIII là yêu cầu các nhà máy sử dụng than nhập khẩu có nhiệt trị cao để giảm lượng sử dụng và mức độ tác động xấu đến môi trường. Trong quy hoạch này, sẽ có 14.590 MW công suất nhiệt điện than chắc chắn được xây dựng.

Ngoài ra, quy hoạch cũng thực hiện đánh giá thêm các vị trí tiềm năng có thể xây dựng tại các vùng miền. Kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy, tổng công suất nhiệt điện than nhập khẩu có thể xây dựng thêm trên toàn quốc là hơn 75.000 MW (gồm cả các dự án đã có trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh).

Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, việc nhập khẩu than, nhất là cho sản xuất điện có một số khó khăn, thách thức.

Cụ thể Việt Nam mới tham gia thị trường nhập khẩu than nhiệt, trong khi thị trường này đã được các tập đoàn tài chính - thương mại lớn trên thế giới sắp đặt “trật tự” và chi phối từ lâu; có sự cạnh tranh gay gắt của các nước, nhất là các nước trong khu vực.

Trong khi đó, cơ sở hạ tầng, hệ thống logistics phục vụ nhập khẩu than còn yếu, năng lực vận chuyển đường thủy nội địa từ cảng biển về các nhà máy nhiệt điện than quá mỏng.

Mặt khác, cơ chế chính sách và tổ chức nhập khẩu than cho các nhà máy nhiệt điện còn nhiều bất cập, hình thức nhập khẩu than còn chưa đa dạng, chủ yếu mua theo chuyến, theo lô chưa có các hợp đồng nhập khẩu than dài hạn, chưa đầu tư khai thác than ở nước ngoài.

Để giải quyết bài toán này, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đề xuất, trước mắt và trung hạn, nguồn than nhập khẩu là từ thị trường than Indonesia, Australia và Nam Phi. Trong dài hạn, ngoài thị trường Australia cần tập trung mở rộng sang thị trường Nga và một số thị trường tiềm năng khác như Mông Cổ, Triều Tiên, Hoa Kỳ, Colombia...

Đặc biệt, để có nguồn than ổn định phải đầu tư mua mỏ ở nước ngoài. Các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn độ, Đài Loan... đã đầu tư mua mỏ ở các nước khu vực châu Á – Thái Bình dương từ hàng chục năm nay.

Đây là dạng đầu tư mạo hiểm và nhiều rủi ro cần có chiến lược bài bản. Chính phủ phải có sự hỗ trợ thích đáng bằng các hình thức thích hợp từ cơ chế chính sách, hỗ trợ đầu tư, hợp tác quốc tế, đường lối ngoại giao năng lượng...

Về cơ chế, chính sách nhập khẩu và đầu tư khai thác than ở nước ngoài, Nhà nước cần xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, giải pháp đồng bộ nhập khẩu than và đầu tư khai thác than ở nước ngoài.

Hỗ trợ xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, hệ thống logistics phục vụ nhập khẩu than. Cho phép nghiên cứu xây dựng các trung tâm quản lý than cho mỗi cụm các nhà máy nhiệt điện than (3 - 5 nhà máy) với mục đích quản lý giao nhận, phối trộn và điều hành chuỗi cung ứng tập trung cho các nhà máy nhiệt điện than trong cụm.

Về tổ chức nhập khẩu than, hiện nay khối lượng than nhập khẩu chủ yếu cho nhiệt điện với các đơn vị nhập khẩu chính là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các công ty tư nhân, hoặc một số đơn vị nước ngoài đầu tư nhà máy điện.

Vì vậy, thời gian tới vẫn phải giao nhiệm vụ cho các đơn vị này thực hiện nhập khẩu than, nhất là cho điện.

Tuy vậy, để tránh tình trạng tranh mua, tranh bán, đẩy giá than tăng cao, gây rối loạn thị trường cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau và với các hộ sử dụng than theo chiến lược chung dưới sự chỉ đạo, giám sát kịp thời của Chính phủ.

Có thể thành lập Hiệp hội nhập khẩu than để hợp tác, hỗ trợ nhau cùng nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin, thống nhất hành động và đàm phán theo chủ trương, định hướng chung với người bán.

Đặc biệt trong xây dựng, vận hành hệ thống logistics, vận chuyển than nhằm đảm bảo có nguồn cung ổn định dài hạn, chất lượng phù hợp và giá cả hợp lý.

Nguyễn Mạnh

VnEconomy


Kinh tế đầu tư

Khẩn trương xử lý tình trạng hàng tồn đọng tại cảng Cát Lái

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   5 giờ trước

Trong khi sản lượng container nhập về bãi từ tàu biển vẫn tăng trưởng thì sản lượng container xuất theo đường bộ, số lượt xe ra, vào cảng giao nhận container liên tục giảm trong bối cảnh TPHCM thực hiện giãn cách, dẫn đến số lượng container tồn tại bãi Cát Lái tăng cao, cảng có thể phải tạm thời ngưng tiếp nhận tàu...


Khẩn trương điều chỉnh giảm giá nước sạch cho người dân bị ảnh hưởng dịch COVID-19

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   20 giờ trước

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương xem xét, điều chỉnh giảm giá nước sạch sinh hoạt, tiền sử dụng nước sạch sinh hoạt hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Đơn hàng rời khỏi Việt Nam do dịch có quay lại?

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   1 ngày trước

Các đợt phong tỏa, giãn cách nghiêm ngặt để phòng chống dịch Covid-19 đã được tuyên bố nối tiếp nhau tại nhiều địa phương trên cả nước. Hậu quả nhãn tiền và thực tế đã có dấu hiệu bắt đầu xảy ra là sự ngưng trệ sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng và các đơn hàng của nước ngoài rời khỏi Việt Nam sang các nước khác, như trong ngành dệt may là một ví dụ.

Không kiểm tra xe chở hàng có mã QR từ ngày 30/7

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   29/07/2021

Từ 0h ngày 30/7/2021, không kiểm tra tại các chốt kiểm soát dịch đối với phương tiện có giấy nhận diện có QR Code vận chuyển hàng hoá phục vụ xây dựng, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, tiêu dùng (trừ các hàng hóa cấm sản xuất, kinh doanh theo quy định) trên tất cả các tuyến đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường giao thông liên huyện, giao thông đô thị trên phạm vi cả nước.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 13,800
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 6,000
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,400
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 27,200
ACC CTCP Bê Tông Becamex 13,950
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 11,400
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 30,450
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 13,300
ANV CTCP Nam Việt 27,000
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 20,750
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 13,050
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 7,000
BBC CTCP Bibica 63,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 10,600
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 23,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 42,550
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,400
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 40,900
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 57,200
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 12,650
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 15,600
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 53,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 52,300
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 23,500
C47 CTCP Xây Dựng 47 10,450
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 18,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 11,900
CDC CTCP Chương Dương 13,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 16,250
CLC CTCP Cát Lợi 32,800
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,000
CLL CTCP Cảng Cát Lái 29,500
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 30,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 45,400
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 18,300
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 14,350
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 13,500
CNG CTCP CNG Việt Nam 25,300
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 42,250
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,250
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 62,700
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 33,750
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 14,300
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 51,000
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,220
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 40,000
DHA CTCP Hóa An 42,400
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 88,600
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 35,550
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 21,500
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,700
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,600
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,000
AME CTCP Alphanam E&C 8,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 8,400
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 17,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,000
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 11,200
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 50,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 4,100
B82 CTCP 482 900
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 10,600
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 11,100
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,600
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,800
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 13,500
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 9,000
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 4,600
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 9,900
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,800
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 14,700
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,900
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 28,100
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 12,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 4,400
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 38,500
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 66,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 36,100
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 8,300
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,000
CKV CTCP COKYVINA 13,800
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,600
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,700
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,200
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 18,700
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 70,500
CT6 CTCP Công Trình 6 3,800
CTA CTCP Vinavico 1,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,700
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,900
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 7,100
CVN CTCP Vinam 7,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 7,800
D11 CTCP Địa Ốc 11 24,400
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,500
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 19,700
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 54,000
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 13,250
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 3,100
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 35,000
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 22,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 12,100
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 800
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 800
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 700
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 2,400
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 11,000
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 5,600
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 52,900
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 36,100
ADP CTCP Sơn Á Đông 26,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,900
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,800
BVN CTCP Bông Việt Nam 9,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 10,000
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,200
CFC CTCP Cafico Việt Nam 8,500
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,900
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 8,800
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 36,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 15,100
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 28,300
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 14,500
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 25,800
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 22,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 21,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 18,500
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 42,800
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 5,000
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 23,200
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 3,000
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 2,700
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 29,500
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,500
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 5,200
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,400
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 19,200
HDM CTCP Dệt May Huế 17,200
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2021 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp