Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +16.45 (+1.27%)
  • HNX-Index 314.93 +0.08 (+0.03%)
  • UPCOM-Index 87.35 +0.42 (+0.48%)
Kinh tế đầu tư
Dệt may Việt Nam hưởng lợi trong dài hạn nhờ EVFTA
Đăng 16/06/2021 | 15:20 GMT+7  |   VietStock
Lộ trình giảm thuế với hàng dệt may Việt Nam trong EVFTA kéo dài 5-7 năm nên thời gian đầu thuế nhập khẩu với một số mặt hàng vẫn còn cao hơn thuế suất GSP. Sau thời gian này, 100% các mặt hàng sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0%...

Dệt may Việt Nam hưởng lợi trong dài hạn nhờ EVFTA

Lộ trình giảm thuế với hàng dệt may Việt Nam trong EVFTA kéo dài 5-7 năm nên thời gian đầu thuế nhập khẩu với một số mặt hàng vẫn còn cao hơn thuế suất GSP. Sau thời gian này, 100% các mặt hàng sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0%...

Ảnh minh hoạ

Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU bắt đầu được cải thiện từ tháng 8/2020, một phần do sự phục hồi sau khủng hoảng của dịch Covid-19, một phần do tác động tích cực từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và các doanh nghiệp EU cũng tăng cường đa dạng hóa thị trường.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công Thương, tác động của EVFTA đối với hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ở thời điểm hiện tại là chưa nhiều.

Phân tích từ chuyên san EVFTA của Bộ Công Thương cho thấy, Hiệp định EVFTA có hiệu quả với hàng may mặt về lâu dài, bởi quá trình giảm thuế diễn ra theo lộ trình từ 5-7 năm. Trong những năm đầu tiên EVFTA có hiệu lực, thuế suất thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng vẫn còn cao hơn so với thuế suất GSP (ưu đãi thuế quan phổ cập) 9,6% đang được hưởng. 100% các mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực.

LỢI ÍCH TỐI ĐA TRONG DÀI HẠN TỪ EVFTA

Theo số liệu Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU những tháng đầu năm 2020 đã giảm mạnh, nhưng kể từ tháng 8/2020 (thời điểm EVFTA có hiệu lực) đến hết quý 1/2021, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam bắt đầu cải thiện. Mức giảm tăng trưởng xuất khẩu (tính lũy kể từ đầu năm) cũng bắt đầu ghi nhận tăng trưởng trong 3 tháng đầu năm 2021.

5 tháng cuối năm 2020, xuất khẩu may mặc sang EU đạt 1,1 tỷ USD, giảm 6,4% so với 5 tháng cuối năm 2019. Nhưng bước sang quý 1/2021, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường này đã tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước.

Hà Lan vượt Đức trở thành thị trường nhập khẩu nhiều hàng may mặc nhất của Việt Nam trong khối EU với tỷ trọng 22,73%. Bên cạnh đó, Tây Ban Nha từ thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ 4 với tỷ trọng 13,02% trong năm 2020 đã xuống vị trí thứ 5 trong 3 tháng đầu năm 2021 với tỷ trọng chiếm 8,24%.

Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA, hàng dệt may Việt Nam phải đáp ứng các quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo hiệp định này và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu EUR.1 theo EVFTA.

Theo thống kê của Cục Xuất nhập khẩu, tính từ ngày 1/8/2020 đến ngày 31/12/2020, kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU cấp C/O mẫu EUR.1 theo Hiệp định EVFTA đạt 216 triệu USD. Trong quý 1/2021, con số này đã đạt hơn 199 triệu USD.

Trong đó, Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Ý, Romania là các thị trường có kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu có sử dụng C/O EUR.1 cao nhất. Đây đều là những thị trường nhập khẩu truyền thống của hàng dệt may Việt Nam trong khối EU.

Quý 1/2021, Pháp và Romania là hai thị trường có kim ngạch cấp C/O mẫu EUR.1 cho hàng may mặc của Việt Nam lớn nhất, lần lượt đạt 35,9 triệu USD và 31,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 18% và 15,8% trong tổng trị giá C/O cấp cho hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường EU.

THÁCH THỨC LỚN TỪ QUY TẮC XUẤT XỨ 

Có thể thấy, mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sử dụng C/O mẫu EUR.1 trong năm 2021 có sự gia tăng so với năm 2020, nhưng con số này vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nói chung sang thị trường EU (chiếm gần 30% kim ngạch xuất khẩu quý 1 năm 2021). “Như vậy, tỷ lệ sử dụng C/O mẫu EUR.1 của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU nhằm mục đích tận dụng ưu đãi thuế quan chưa đạt được mức kỳ vọng”, Cục Xuất nhập khẩu nhận định.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, có hai nguyên nhân chính dẫn đến việc hàng hóa xuất khẩu không sử dụng C/O để hưởng ưu đãi thuế quan, đó là hàng hóa đó đã có thuế suất cơ sở nhập khẩu rất thấp hoặc bằng 0% hoặc hàng hóa đó không đáp ứng được quy tắc xuất xứ theo hiệp định.

Song nếu nhìn vào biểu thuế nhập khẩu của EU, số lượng mặt hàng dệt may có thuế suất cơ sở là 0% rất ít. Hầu hết thuế suất hàng dệt may của EU dao động từ 3% đến 12%. Lộ trình cắt giảm thuế mà EU dành cho hàng dệt may Việt Nam tối đa là 7 năm. Trong năm đầu khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, một số mặt hàng dệt may có lộ trình cắt giảm thuế dài sẽ có thuế suất cao hơn so với thuế suất tương ứng đang được áp dụng trong GSP.

Trong khi đó, EU cho phép hàng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được áp thuế GSP ngay cả khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực với lộ trình 7 năm. Do đó, nhiều doanh nghiệp vẫn sẽ tiếp tục lựa chọn cơ chế GSP thay vì EVFTA khi xuất khẩu hàng dệt may sang EU.

Nói về việc đáp ứng quy tắc xuất xứ từ hiệp định, Bộ Công Thương đánh giá: quy tắc xuất xứ hàng dệt may trong EVFTA chặt chẽ hơn so với nhiều hiệp định mà Việt Nam đang tham gia. Đây được coi là một thách thức lớn cho ngành dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu và hưởng ưu đãi thuế quan từ hiệp định này.

Bởi tiêu chí xuất xứ hàng dệt may trong hiệp định được xây dựng trên quy tắc “hai công đoạn”. Nghĩa là vải sử dụng để cắt may thành quần áo phải có xuất xứ từ EU hoặc Việt Nam. Trong khi dệt may Việt Nam nhập khẩu kim ngạch lớn vải nguyên liệu từ nhiều thị trường trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản... Còn lượng vải nguyên liệu nhập khẩu từ EU lại rất khiêm tốn (133,55 triệu USD, chiếm 1,12% kim ngạch nhập khẩu vải năm 2020).

“Như vậy, sản phẩm dệt may của Việt Nam chỉ có thể dùng vải có xuất xứ EU hoặc vải được sản xuất trong nước để làm nguyên liệu sản xuất hàng dệt may xuất khẩu đi EU. Tuy nhiên, công suất sản xuất vải trong nước hiện vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất xuất khẩu của ngành dệt may đi EU nói riêng cũng như đi toàn thế giới nói chung”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu nhận định.

Do đó, để đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng dệt may xuất khẩu sang EU, về lâu dài, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có kế hoạch đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất vải nguyên liệu trong nước, không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Một thách thức nữa, theo Bộ Công Thương, là quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA không chỉ có thêm quy định mới mà cách diễn đạt các tiêu chí xuất xứ cũng khác so với các hiệp định mà Việt Nam đang tham gia. Chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp mới xuất khẩu sang EU theo EVFTA gặp nhiều bỡ ngỡ trong việc đọc và hiểu các quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa tại hiệp định này.

Chẳng hạn, việc áp dụng hạn mức linh hoạt cho sản phẩm dệt may trong EVFTA được thể hiện qua chú giải cuối trang tại danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR). Thêm vào đó, chỉ có những dòng hàng có ghi chú cuối trang về hạn mức linh hoạt mới được phép áp dụng, không tự động áp dụng cho toàn bộ nguyên liệu và sản phẩm dệt may như một số hiệp định FTA khác. Do vậy, để có thể áp dụng một cách chuẩn xác, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải hiểu rõ và hiểu đúng quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA.

“Như vậy, trong ngắn hạn, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho hàng dệt may xuất khẩu sang EU để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA sẽ vẫn còn là hạn chế đối với ngành dệt may Việt Nam. Trong dài hạn, khi mức thuế suất hàng dệt may tiếp tục được cắt giảm sâu, tạo động lực cho ngành cũng như việc hình thành các chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu thô đến thành phẩm hoàn thiện cuối cùng, sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn nữa các ưu đãi từ Hiệp định EVFTA mang lại”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu chia sẻ.

Vũ Khuê

VnEconomy


Kinh tế đầu tư

Khẩn trương xử lý tình trạng hàng tồn đọng tại cảng Cát Lái

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   5 giờ trước

Trong khi sản lượng container nhập về bãi từ tàu biển vẫn tăng trưởng thì sản lượng container xuất theo đường bộ, số lượt xe ra, vào cảng giao nhận container liên tục giảm trong bối cảnh TPHCM thực hiện giãn cách, dẫn đến số lượng container tồn tại bãi Cát Lái tăng cao, cảng có thể phải tạm thời ngưng tiếp nhận tàu...


Khẩn trương điều chỉnh giảm giá nước sạch cho người dân bị ảnh hưởng dịch COVID-19

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   19 giờ trước

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương xem xét, điều chỉnh giảm giá nước sạch sinh hoạt, tiền sử dụng nước sạch sinh hoạt hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Đơn hàng rời khỏi Việt Nam do dịch có quay lại?

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   23 giờ trước

Các đợt phong tỏa, giãn cách nghiêm ngặt để phòng chống dịch Covid-19 đã được tuyên bố nối tiếp nhau tại nhiều địa phương trên cả nước. Hậu quả nhãn tiền và thực tế đã có dấu hiệu bắt đầu xảy ra là sự ngưng trệ sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng và các đơn hàng của nước ngoài rời khỏi Việt Nam sang các nước khác, như trong ngành dệt may là một ví dụ.

Không kiểm tra xe chở hàng có mã QR từ ngày 30/7

Kinh tế đầu tư  |   VietStock  |   29/07/2021

Từ 0h ngày 30/7/2021, không kiểm tra tại các chốt kiểm soát dịch đối với phương tiện có giấy nhận diện có QR Code vận chuyển hàng hoá phục vụ xây dựng, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, tiêu dùng (trừ các hàng hóa cấm sản xuất, kinh doanh theo quy định) trên tất cả các tuyến đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường giao thông liên huyện, giao thông đô thị trên phạm vi cả nước.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 13,800
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 6,000
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,400
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 27,200
ACC CTCP Bê Tông Becamex 13,950
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 11,400
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 30,450
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 13,300
ANV CTCP Nam Việt 27,000
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 20,750
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 13,050
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 7,000
BBC CTCP Bibica 63,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 10,600
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 23,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 42,550
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,400
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 40,900
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 57,200
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 12,650
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 15,600
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 53,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 52,300
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 23,500
C47 CTCP Xây Dựng 47 10,450
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 18,000
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 11,900
CDC CTCP Chương Dương 13,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 16,250
CLC CTCP Cát Lợi 32,800
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,000
CLL CTCP Cảng Cát Lái 29,500
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 30,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 45,400
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 18,300
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 14,350
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 13,500
CNG CTCP CNG Việt Nam 25,300
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 42,250
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,250
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 62,700
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 33,750
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 14,300
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 51,000
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,220
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 40,000
DHA CTCP Hóa An 42,400
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 88,600
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 35,550
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 21,500
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,700
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,600
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,000
AME CTCP Alphanam E&C 8,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 8,400
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 17,000
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 7,000
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 11,200
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 50,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 4,100
B82 CTCP 482 900
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 10,600
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 11,100
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,600
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,800
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 13,500
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 9,000
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 4,600
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 9,900
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,800
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 14,700
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,900
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 28,100
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 12,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 4,400
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 38,500
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 66,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 36,100
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 8,300
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,000
CKV CTCP COKYVINA 13,800
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,600
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,700
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,200
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 18,700
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 70,500
CT6 CTCP Công Trình 6 3,800
CTA CTCP Vinavico 1,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,700
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,900
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 7,100
CVN CTCP Vinam 7,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 7,800
D11 CTCP Địa Ốc 11 24,400
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,500
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 19,700
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 54,000
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 13,250
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 3,100
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 35,000
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 22,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 12,100
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 800
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 800
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,400
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 700
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 2,400
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 11,000
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 5,600
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 52,900
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 36,100
ADP CTCP Sơn Á Đông 26,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,900
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 5,800
BVN CTCP Bông Việt Nam 9,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 10,000
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,200
CFC CTCP Cafico Việt Nam 8,500
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 4,900
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 8,800
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 36,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 15,100
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 28,300
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 14,500
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 25,800
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 22,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 21,000
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 18,500
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,900
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 42,800
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 5,000
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 23,200
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 3,000
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 2,700
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 29,500
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,500
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 5,200
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,400
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 19,200
HDM CTCP Dệt May Huế 17,200
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2021 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp