Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +0.14 (+0.01%)
  • HNX-Index 313.29 -1.63 (-0.52%)
  • UPCOM-Index 94.95 +0.17 (+0.18%)
Tài chính ngân hàng
USD cao nhất 1 tuần, vàng và Bitcoin giảm sâu
Đăng 19/01/2022 | 12:50 GMT+7  |   CafeF
USD vọt lên mức cao nhất trong vòng 1 tuần sau khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt, trong khi yen Nhật ổn định do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tuyên bố sẽ tuân theo chính sách tiền tệ siêu lỏng khiến yen mất đà tăng so với USD.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ họp định kỳ vào tuần tới, ở đó dự kiến sẽ quyết định tăng lãi suất vào tháng 3 tới – lần tăng đầu tiên kể từ đầu dịch Covid-19. Các nhà đầu tư đang đồn đoán Fed sẽ nâng lãi suất tổng cộng 4 lần trong năm 2022.

Do các nhà đầu tư chuẩn bị tinh thần cho khả năng Fed sẽ ‘diều hâu’ hơn dự kiến, lợi tức trái phiếu kho bạc Mỹ đã tăng vọt, với lợi suất kỳ hạn 2 năm – theo dõi kỳ vọng lãi suất ngắn hạn - lần đầu tiên kể từ tháng 2 năm 2020 vượt mức 1%; lợi tức kỳ hạn 10 năm cũng đạt mức cao nhất 2 năm chỉ sau 1 đêm, đạt 1,856%.

Đồng USD mạnh lên so với các đồng tiền đối tác chủ chốt, lúc kết thúc ngày 18/1 theo giờ Việt Nam đạt mức cao nhất 6 phiên, là 95,638, tăng gần 0,5% so với phiên liền trước.

Chester Ntonifor, chiến lược gia ngoại hối của công ty BCA Research ở Montreal, cho biết: "Đồng USD đang tăng giá bởi thực tế là các thị trường đã chuyển sang chấp nhận khả năng Fed có thể thắt chặt chính sách nhanh hơn nhiều so với dự kiến". Nhưng ông Ntonifor lưu ý rằng mức tăng của đồng USD có thể chỉ trong ngắn hạn, khoảng 3 đến 6 tháng.

"Đến khi các nhà đầu tư đều xác định tư tưởng rằng Fed sẽ trở thành một trong những ngân hàng trung ương có thái độ ‘diều hâu’ hơn trong việc tăng lãi suất (năm 2022) thì sẽ có những dòng tiền đổ vào đồng USD bởi mục đích đầu cơ", ông Ntonifor nói thêm.

Đồng euro chạm mức thấp nhất trong một tuần là 1,1351 USD, giảm 0,5% so với phiên liền trước.

Theo khảo sát của ZEW, tâm lý nhà đầu tư Đức tháng 1/2022 đạt mức cao nhất trong sáu tháng do kỳ vọng tỷ lệ người nhiễm COVID-19 sẽ giảm vào đầu mùa hè, giúp mang lại tăng trưởng cho nền kinh tế lớn nhất châu Âu.

Do giá dầu đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm và thị trường chứng khoán toàn cầu sụt giảm, lợi suất trái phiếu chính phủ Đức kỳ hạn 10 năm – kỳ hạn tham chiếu – đã gần chạm mức 0%, nhưng vẫn chưa vượt qua được mức này.

"Chúng tôi cho rằng Mỹ sẽ xem xét lại vấn đề tỷ giá, và sự thay đổi mới nhất của lợi suất trái phiếu Mỹ theo hướng tăng lên phần nào phản ánh dự đoán lãi suất sẽ được tăng nhiều hơn, chứ không chỉ là tăng nhanh hơn những dự đoán trước đây. Yếu tố Fed tăng lãi suất sẽ đẩy tỷ giá USD tăng trong nửa đầu năm nay, trong khi kinh tế toàn cầu hồi phục sẽ là yếu tố chính tác động đến thị trường tiền tệ trong 6 tháng cuối năm", ông Kit Jukes, người phụ trách mảng chiến lược tiền tệ của Societe Generale cho biết.

"Nhưng lợi suất Bund đạt trên 0 sẽ là một thử nghiệm thú vị đối với đồng đô la."

Yen giảm nhanh

Đồng yên trượt giá sau khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cho biết họ sẽ duy trì chính sách tiền tệ siêu nới lỏng ngay cả khi các đối tác trên toàn cầu tiến tới thoát khỏi các chính sách tiền tệ áp dụng trong giai đoạn khủng hoảng.

Kết thúc ngày 18/1 theo giờ Việt Nam, USD vững ở mức 114,55 JPY, sau khi có lúc tăng lên 115,06 JPY.

Nhà kinh tế cấp cao về châu Á Carlos Casanova của UBP cho biết: "Giao dịch trên toàn cầu chậm lại và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng đang cùng lúc gây áp lực lên đồng yen". Theo ông: "Hơn nữa, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản dự kiến ​​sẽ giữ các điều kiện cực kỳ phù hợp trong thời gian dài hơn, trong khi bất kỳ sự gia tăng lạm phát nào trong năm 2022 sẽ chỉ ở mức khiêm tốn, khoảng 1,0%".

BoJ đã nâng mức độ dự báo lạm phát tại cuộc họp chính sách mới đây, nhưng do lạm phát sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp hơn mục tiêu 2% trong những năm tới, là lý do khiến BoJ nhấn mạnh quyết tâm duy trì các biện pháp tiền tệ cực kỳ nới lỏng.

Nhà phân tích tiền tệ Lee Hardman của MUFG cho biết: "Chúng tôi tiếp kỳ vọng BoJ sẽ tuân theo khuôn khổ chính sách hiện tại của họ cho đến khi nhiệm kỳ của Thống đốc Kuroda kết thúc vào tháng 4 tới". Theo ông Hardman: "Sự khác biệt ngày càng lớn giữa kỳ vọng chính sách của BoJ và Fed sẽ tiếp tục gây áp lực tăng lên tỷ giá cặp tiền USD/JPY".

Tuy nhiên, ông Hardman lưu ý rằng cặp tiền này đã không thể vượt qua mức 117 JPY vì từ đầu tháng đến nay yen tăng khá mạnh.

"Thất bại đó và thực tế là thị trường thiếu đồng JPY có nghĩa là triển vọng về sự phục hồi nhanh chóng của USD/JPY đang giảm đi ... một phần sự phục hồi của USD/JPY là khả thi nhưng sự điều chỉnh này có thể là một dấu hiệu của thời điểm kết thúc giai đoạn Yen tăng so với USD", ông nói.

Tỷ giá USD/JPY

Đô la Australia giảm 0,2% trong ngày 18/1, xuống 0,7193 USD; đô la New Zealand cũng giảm 0,3%. Đồng bảng Anh giảm 0,4% xuống 1,3596 USD.

Trong khi đó, ngân hàng trung ương Trung Quốc có kế hoạch hành động tích cực làm nhiều hơn nữa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm đều đặn chi phí tài chính và giữ tỷ giá hối đoái đồng nhân dân tệ ổn định, Phó Thống đốc ngân hàng trung ương nước này cho biết.

Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã bất ngờ cắt giảm chi phí đi vay đối với các khoản cho vay trung hạn lần đầu tiên kể từ tháng 4 năm 2020. Các nhà phân tích thị trường dự kiến ​​Trung Quốc năm nay sẽ còn gia tăng hơn nữa việc nới lỏng chính sách hơn để ngăn chặn tốc độ suy yếu của nền kinh tế trong bối cảnh thị trường bất động sản giảm và tiêu thụ yếu hơn dự kiến sẽ còn kéo dài trong nhiều tháng.

Đồng nhân dân tệ Trung Quốc kết thúc ngày 18/1 đạt mức cao nhất trong vòng hơn ba năm do dòng tiền thanh toán thương mại mạnh mẽ, ở mức 6,3368 CNY (cao nhất kể từ 14/5/2018).

Chênh lệch giữa lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm của Trung Quốc và Mỹ đã giảm xuống 0,926 điểm phần trăm, mức thấp nhất kể từ tháng 5 năm 2019. Tháng 7/2020, mức chênh lệch này lên tới 2,565 điểm phần trăm.

Cập nhật tỷ giá hối đoái. các tiền tệ chủ chốt.

Trên thị trường tiền điện tử, bitcoin giảm khoảng 1.000 USD trong một phiên, xuống 41.800 USD, và thấp hơn đáng kể so với mức cao nhất mọi thời đại, là 69.000 USD đạt được vào tháng 11 năm ngoái.

Diễn biến giá bitcoin ngày 18/1.

Giá vàng không thể tránh khỏi xu hướng giảm khi cả USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đều tăng mạnh.

Theo đó, giá vàng giao ngay lúc kết thúc ngày 18/1 theo giờ Việt Nam giảm 0,7% xuống 1.806,72 USD/ounce, vàng kỳ hạn tháng 2 giảm 0,6% xuống 1.806 USD.

Tuy nhiên, Han Tan, người phụ trách mảng phân tích thị trường của Exinity cho biết: "Bất chấp lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng đột biến, vàng giao ngay dường như đang giữ ở mức trên 1.800 USD trong thời điểm hiện tại". Tuy nhiên, theo ông thì "Lợi suất Kho bạc tăng sẽ kiểm tra khả năng vượt qua ngưỡng tâm lý quan trọng - 1.800 USD".

Về triển vọng thị trường, nhìn chung, các nhà đầu tư toàn cầu đang dõi theo cuộc hop của Fed sẽ diễn ra vào ngày 25 – 26/1.

Nhà phân tích Giovanni Staunovo của UBS cho biết: "Hiện tại, rủi ro lạm phát đang khiến một số nhà đầu tư giữ một số khoản đầu tư vào vàng, nhưng chúng tôi cho rằng lợi suất thực của Mỹ tăng lên và đồng USD mạnh lên sẽ làm suy yếu các yếu tố hỗ trợ trong những quý tới".

Tham khảo: Refinitiv, Coindesk

https://cafef.vn/usd-cao-nhat-1-tuan-vang-va-bitcoin-giam-sau-20220119001240305.chn

Tài chính ngân hàng

TS. Cấn Văn Lực: Nhiều ngân hàng sẽ được cấp room tín dụng cao hơn năm 2021, lợi nhuận cả ngành dự báo tăng 20 - 25%

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   23 giờ trước

Nhóm nghiên cứu của BIDV cho rằng tín dụng sẽ tăng trưởng tích cực trong năm 2022 nhờ cả từ phía cung và phía cầu. Nhu cầu vốn tăng, thị trường tài sản diễn biến tích cực sẽ giúp triển vọng ngành ngân hàng tiếp tục khả quan.

USD chạm đáy 1 tháng, euro và vàng tăng mạnh

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   1 ngày trước

Đồng USD tiếp tục giảm mạnh xuống mức thấp nhất 1 tháng sau khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Christine Lagarde, cho biết lãi suất khu vực đồng euro (Eurozone) có thể sẽ chuyển từ mức âm sang mức dương vào cuối quý 3 – yếu tố đẩy đồng euro tăng giá mạnh.

TOP 5 tỷ lệ CASA gọi tên những ngân hàng nào?

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   2 ngày trước

Gia tăng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) là một trong những mục tiêu quan trọng của các ngân hàng hiện nay nhằm giảm chi phí huy động vốn, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Hiện có khoảng 10 ngân hàng có tỷ lệ CASA đạt trên 20%, trong đó 1 ngân hàng đạt trên 50%.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 23,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 10,400
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 12,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 42,000
ACC CTCP Bê Tông Becamex 14,950
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 25,800
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,800
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 28,850
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 13,150
ANV CTCP Nam Việt 47,500
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 21,900
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 18,050
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 8,530
BBC CTCP Bibica 74,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 11,150
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 26,850
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 35,100
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 16,650
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 32,500
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 59,300
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 14,150
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 28,700
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 17,950
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 49,900
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 53,500
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 26,350
C47 CTCP Xây Dựng 47 15,550
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 31,250
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 10,500
CDC CTCP Chương Dương 17,800
CIG CTCP COMA 18 9,050
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 21,950
CLC CTCP Cát Lợi 38,000
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,900
CLL CTCP Cảng Cát Lái 29,900
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 35,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 59,000
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 23,200
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 15,150
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 19,450
CNG CTCP CNG Việt Nam 36,000
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 63,000
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,350
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 49,400
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 26,700
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 14,850
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 50,200
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 7,750
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 27,200
DHA CTCP Hóa An 45,500
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 72,000
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 30,350
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 19,300
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 17,100
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 7,900
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 22,100
AME CTCP Alphanam E&C 10,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 10,900
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 48,400
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 8,200
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 21,300
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 50,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 12,500
B82 CTCP 482 1,400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 13,000
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 15,800
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 12,600
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,700
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 10,100
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 6,100
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 8,400
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 10,600
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 18,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 19,000
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 9,100
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 22,400
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 13,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,600
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 58,500
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 100,700
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 59,800
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 43,300
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 19,200
CKV CTCP COKYVINA 21,100
CMC CTCP Đầu Tư CMC 10,400
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,700
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 14,500
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 22,100
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 70,700
CT6 CTCP Công Trình 6 6,400
CTA CTCP Vinavico 2,400
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 25,700
CTC CTCP Gia Lai CTC 5,800
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 8,600
CVN CTCP Vinam 7,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 11,000
D11 CTCP Địa Ốc 11 21,500
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 24,300
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 25,000
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 25,300
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 12,700
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 5,900
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 40,500
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 41,600
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 9,500
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,800
HDO CTCP Hưng Đạo Container 1,300
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 2,200
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 3,500
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,800
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 2,900
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 12,300
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 8,100
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 48,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 37,100
ADP CTCP Sơn Á Đông 22,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 13,100
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,400
BVN CTCP Bông Việt Nam 8,800
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 14,100
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,900
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 17,000
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,100
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 35,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 16,900
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 34,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 14,900
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 20,000
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 16,200
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 23,100
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 18,500
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 8,300
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 38,900
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 9,600
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 35,900
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 13,600
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 7,800
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 27,300
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,500
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 6,900
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 14,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 29,500
HDM CTCP Dệt May Huế 46,000
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2022 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp