Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 942.59 -4.36 (-0.46%)
  • HNX-Index 103.38 -0.12 (-0.12%)
  • UPCOM-Index 54.78 -0.19 (-0.35%)
Doanh nghiệp
Nhìn về dấu hiệu tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn nhiều năm sau 5 tháng 2019
Đăng 13/06/2019 | 10:34 GMT+7  |   BizLive
BizLIVE - 5 tháng đầu năm 2019, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam có dấu hiệu chậm lại, thấp so với “thông lệ” nhiều năm qua, nhưng vẫn khá tích cực so với nhiều nước trong khu vực. Chia sẻ
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm ước tính đạt 202,02 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 100,74 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn nhiều mức tăng 19% và 17,5% của 5 tháng đầu năm 2017 và 2018; kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 101,28 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 5 đã thâm hụt 1,3 tỷ USD và tính chung 5 tháng Việt Nam nhập siêu khoảng 548 triệu USD.
Đáng chú ý, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giảm mạnh về số lượng và giá trị trong 5 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ các năm trước như: gạo, cao su, cà phê… 
Dấu hiệu tăng trưởng xuất khẩu chậm lại cùng cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt lớn trong tháng 5 và sau 5 tháng đầu năm 2019 xuất phát từ nguyên nhân gì và Việt Nam cần làm gì để thúc đẩy xuất khẩu trong thời gian tới?
BizLIVE ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia, doanh nghiệp về vấn đề này.
TS. Võ Trí Thành – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) 
BA NGUYÊN NHÂN CHÍNH
Nói một cách khái quát nhất, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam quý I/2019 và cả 5 tháng đầu năm 2019 thấp hơn nhiều so với các năm gần đây, mặc dù xuất khẩu 5 tháng đã có bước tiến tốt hơn so với quý I/2019.
Có ba nguyên nhân chính dẫn đến cán cân thương mại thâm hụt trong tháng 5 và cả 5 tháng đầu năm 2019.
Thứ nhất là, bối cảnh suy giảm thương mại chung của thế giới.
Số liệu gần đây cho thấy xuất khẩu của nhiều nước trong khu vực giảm mạnh trong 3 tháng đầu năm như Nhật Bản, Indonesia, Singapore hoặc tăng nhẹ như Trung Quốc (tăng 1,4%). Trong khi tính chung 5 tháng đầu năm, xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng 6,7%, mức tăng này khá thấp so với “thông lệ” của Việt Nam trong rất nhiều năm qua nhưng lại khá tích cực so với nhiều nước ở khu vực.
Rõ ràng, sự suy giảm tăng trưởng kinh tế thế giới bên cạnh tính chu kỳ thì còn chịu tác động của các nhân tố khác, đặc biệt là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm thì tổng cầu giảm, kéo theo việc mức tăng xuất khẩu của Việt Nam không được như mong muốn mặc dù nó vẫn tốt hơn mức tăng trưởng âm của rất nhiều nước trong khu vực.
Lý do thứ hai là xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào khu vực FDI và trong khu vực FDI thì phụ thuộc nhiều vào một số tập đoàn lớn như Samsung. Rõ ràng, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Samsung hiện đã giảm khá nhiều so với các năm trước. 
Trong khi trước doanh nghiệp này tăng trưởng ở mức hai con số thì sang năm 2019, tốc độ tăng trưởng 3 tháng đầu năm rất thấp và đến 5 tháng thì có khá hơn nhưng cũng chỉ ở mức vài phần trăm.
Cuối cùng là nông nghiệp. Khác hẳn với hai năm vừa qua, năm nay xuất khẩu nông nghiệp khó khăn hơn rất nhiều, một số mặt hàng sụt giảm cả về lượng và giá còn một số mặt hàng sụt giảm về giá. Trong nhiều ngành hàng, xu hướng tăng trưởng của các mặt hàng lại khác nhau, trong khi xuất khẩu tôm có thể tăng nhẹ thì xuất khẩu cá tra lại giảm. 
Xuất khẩu nông sản Việt Nam có rất nhiều mặt hàng là xuất sang thị trường Trung Quốc. Trong khi bối cảnh chung của nền kinh tế Trung Quốc năm nay là suy giảm, ngoài ra thị trường này lại yêu cầu khắt khe hơn về mặt tiêu chuẩn. Điều này về mặt dài hạn là tốt cho Việt Nam thế nhưng trước mắt lại hạn chế một phần xuất khẩu nông sản. 
 Ông Lê Đức Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2/9 Đắk Lắk
CÀ PHÊ XUẤT KHẨU GIẢM NHƯNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA TĂNG, NHÀ MÁY ĐANG CHẠY HẾT CÔNG SUẤT
Theo Tổng Cục Thống Kê, xuất khẩu cà phê Việt Nam 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 767 nghìn tấn và 1,3 tỷ USD giá trị, giảm 13,1% về lượng và giảm 23% về giá trị so với 5 tháng đầu năm 2018. Xuất khẩu cà phê sang các thị trường chủ lực như Đức, Mỹ, Đông Nam Á, Nhật Bản đều giảm lên đến hai con số cả về lượng và giá trị.
Sản lượng xuất khẩu sụt giảm do sản lượng thu hoạch mùa vụ 2018/2019 của Việt Nam giảm khoảng 20% (theo Vicofa) vì bị mất mùa và do giá xuất khẩu thấp. Giá xuất khẩu do giá thế giới quyết định.
Thị trường cà phê toàn cầu trong những tháng đầu năm 2019 tiếp tục chịu áp lực dư cung bởi hàng tồn kho mùa vụ 2018/2019 và sản lượng thu hoạch đạt kỷ lục trong niên vụ 2018/2019 của Brazil, Columbia.
Năm nay, phải đến tháng 11, Việt Nam mới có hàng vụ mới nên tình hình xuất khẩu cà phê trong những tháng tới khó có thể cải thiện đáng kể. Vì vậy, nhiều khả năng, kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2019 của Việt Nam sẽ giảm khoảng 17% - 20% so với năm 2018.
Tuy nhiên, tín hiệu tốt đối với ngành cà phê Việt Nam là lượng tiêu thụ trên thị trường nội địa tăng; các nhà máy sản xuất cà phê hòa tan của Việt Nam đang chạy hết công suất; hầu hết các chủ đầu tư đều muốn mở rộng quy mô nhà máy sản xuất, tăng sản lượng cũng như đầu tư nhà máy mới tại Việt Nam.
Ở khía cạnh khác, ngành cà phê nhân xuất khẩu của Việt Nam chưa bị ảnh hưởng trực tiếp bởi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung vì xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam không phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Nhưng với những cơ hội từ tự do thương mại hiện nay, Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế phát triển thị trường thế giới cho chế biến sâu nông sản, cũng như cà phê rang xay, hoà tan
Ông Dương Tuấn Anh, Phó Trưởng Ban Thị trường, Kinh doanh Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) 

CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI KHIẾN XUẤT KHẨU CAO SU BỊ ẢNH HƯỞNG
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, 4 tháng đầu năm 2019 sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên (CSTN) của Việt Nam đạt 415.044 tấn, kim ngạch xuất khẩu là 556,9 triệu USD. Tính đến 31/5/2019, xuất khẩu CSTN ước đạt 488 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu 662 triệu USD, tăng 10,3% về khối lượng và tăng 2,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Giá bán bình quân chủng loại SVR 3L đạt 1.529 USD/tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2018.
Mặc dù giá bán bình quân trong tháng 5 đã tăng, tuy nhiên, lượng cao su xuất khẩu chỉ đạt 73.000 tấn đã dẫn đến kim ngạch xuất khẩu của tháng giảm so với các tháng đầu năm,.
Thứ nhất, diễn biến thời tiết vào các tháng đầu năm 2019 khá phức tạp. Các đợt nắng nóng kéo dài tại Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc đã làm sản lượng khai thác bị sụt giảm liên tục.
Bước vào đầu mùa vụ mới của năm 2019, tình trạng nắng nóng kéo dài vẫn tiếp tục, đặc biệt rơi vào tháng 5, cũng là tháng bắt đầu cho mùa vụ mới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch khai thác của VRG. Đây là một nguyên nhân dẫn đến giá mủ nguyên liệu tại các khu vực trong nước giữ ở mức 290-300 đồng/độ TSC mặc dù giá các sàn giao dịch giảm.
Thứ hai, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 5/2019 giảm là do Trung Quốc đã thay đổi chính sách về hải quan đối với cao su tổng hợp (mixture) nhập khẩu. Như chúng ta đã biết, sản lượng cao su mixture xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2019 chiếm hơn 50% lượng hàng cao su xuất khẩu của Việt Nam.
Trước đây, cao su tổng hợp của Việt Nam chịu mức thuế nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc là dưới 10%. Tuy nhiên, đến 01/5/2019, Hải quan Trung Quốc đã thay đổi chính sách và tăng cường giám sát chặt chẽ vào cao su tổng hợp nhập khẩu vào Trung Quốc đã ảnh hưởng đến lượng xuất khẩu của cao su Việt Nam vào thị trường này.
Thứ ba, lo ngại về chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến việc các nhà sản xuất và thương mại tiếp tục chờ đợi các diễn biến tiếp theo của thị trường.

Căng thẳng về chiến tranh thương mại tiếp tục kéo dài và leo thang giữa Mỹ Trung Quốc  khiến cho xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu cao su nói riêng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 60% tổng lượng cao su xuất khẩu.

Với việc Mỹ tăng thuế từ 10% lên 25% đối với một số sản phẩm cao su nhập khẩu từ Trung Quốc, gồm mủ cao su, băng tải, lốp xe khí nén, găng tay, gioăng… từ ngày 10/5/2019. Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Trung Quốc cho biết chính sách thuế của Mỹ có thể sẽ tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu linh kiện ôtô của nước này.
Tuy nhiên, Việt Nam lại ghi nhận xuất khẩu cao su sang Trung Quốc tăng trong cùng kỳ. Việt Nam là một trong 3 nguồn cung cao su lớn nhất của Trung Quốc, sau Thái Lan và Malaysia. Trong khi tăng nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc giảm nhập khẩu từ Thái Lan và Malaysia, lần lượt giảm 7,3% và 14,6%.
Có thể nói Việt Nam là nước được hưởng lợi từ cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Điều này thể hiện rõ việc các công ty Trung Quốc đã và đang dịch chuyển các nhà máy ra khỏi Trung Quốc để né các đòn trừng phát của Mỹ. Việt Nam được xem là nơi thuận lợi nhất để các nhà đầu tư Trung Quốc nhắm đến do có lực lượng lao động trẻ, có trình độ, cơ sở hạ tầng tốt và có vị trí địa lý thuận lợi.
Năm 2019 này có thể nói là năm tiếp tục khó khăn của ngành cao su, tuy nhiên, theo tôi là giá bán bình quân cao su 2019 sẽ được cải thiện.
  Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Xuất nhập khẩu Vina T&T
TẬN DỤNG LỢI THẾ ĐỂ XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
Trong bối cạnh nhiều thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam suy giảm đặc biệt là Trung Quốc thì Việt Nam lại đang có cơ hội rất lớn khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu như Vina T&T, thị trường Mỹ đang có cơ hội để phát triển nhiều hơn. Hiện nay, Vina T&T đang tích cực mở rộng thị trường tại Mỹ, lượng mặt hàng tại thị trường này khá đều và tăng trưởng. 
Tuy nhiên, sự cạnh tranh đến từ các quốc gia khác cũng rất mạnh mẽ, đến từ tất cả các mặt hàng. Ví dụ như Thái Lan, họ đã xuất khẩu mặt hàng dừa vào thị trường Mỹ từ khá lâu, đến khi doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cũng đưa mặt hàng dừa sang thị trường này thì sẽ gặp khó. Một mặt hàng khác là trái xoài Cát Chu của Việt Nam đang giống hệt với giống xoài từ Mexico mà giá lại thấp hơn 5-7 lần.
Mặc dù vậy, quan trọng nhất vẫn là đánh giá từ người tiêu dùng và tại Mỹ, chất lượng hàng nông sản Việt Nam hiện đang được đánh giá khá cao hơn nhiều quốc gia. Vì vậy, hàng trái cây Việt Nam vẫn rất được ưu chuộng tại Mỹ.
Bên cạnh đó, còn nhiều vướng mắc đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam như chi phí cao và tình trạng độc quyền về chính sách. Cụ thể, các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây đang phải chịu nhiều loại chi phí bao gồm: phí vận chuyển, chiếu xạ...
Chỉ riêng quá trình chiếu xạ, hiện cả khu vực miền Nam chỉ có một đơn vị độc quyền về chiếu xạ nên các doanh nghiệp phải chịu chi phí cao và tốn rất nhiều thời gian “chờ chực” khiến chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng. Những điều này khiến các doanh nghiệp bị giảm năng lực cạnh tranh với các quốc gia khác.

HẠ AN - HỒNG QUÂN


Doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp: Kênh huy động vốn lành mạnh hay chỉ là “sân sau” của nhà băng?

Doanh nghiệp  |   VietStock  |   2 giờ trước

Thời gian gần đây, thị trường trái phiếu doanh nghiệp bỗng dưng nóng hơn bao giờ hết khi gia tăng đáng kể về chất lẫn lượng. Thế nhưng, trái phiếu doanh nghiệp có thực sự trở thành kênh huy động vốn lành mạnh hay chỉ là “sân sau” cho các nhà băng?

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 16,040
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 2,400
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 11,800
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 42,100
ACC CTCP Bê Tông Becamex 20,600
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 35,800
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,910
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 9,400
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,900
ANV CTCP Nam Việt 26,500
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 26,800
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 6,990
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,200
BBC CTCP Bibica 66,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 6,190
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 20,000
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 31,950
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 16,000
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 22,800
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 43,500
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 9,700
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 12,500
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 36,150
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 79,900
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 27,150
C47 CTCP Xây Dựng 47 13,150
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 14,600
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 4,900
CDC CTCP Chương Dương 14,200
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 22,350
CLC CTCP Cát Lợi 33,600
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 2,160
CLL CTCP Cảng Cát Lái 26,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 16,600
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 36,500
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 11,000
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 18,000
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 22,000
CNG CTCP CNG Việt Nam 22,700
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 52,500
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 15,100
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 97,000
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 20,400
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 23,050
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 128,500
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 6,380
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 18,500
DHA CTCP Hóa An 35,900
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 43,000
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 28,800
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 15,500
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 9,800
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,100
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 21,900
AME CTCP Alphanam E&C 8,100
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 29,600
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 22,800
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 5,100
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 2,700
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 51,400
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 700
B82 CTCP 482 1,000
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 10,200
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,900
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,500
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 45,900
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 2,700
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,000
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 5,800
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 17,000
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 42,500
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,400
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 11,300
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 8,200
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 41,600
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 39,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 22,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 11,500
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 21,000
CKV CTCP COKYVINA 13,800
CMC CTCP Đầu Tư CMC 4,100
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 800
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 5,700
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 29,400
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 16,900
CT6 CTCP Công Trình 6 4,100
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 31,200
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,800
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 20,500
CVN CTCP Vinam 14,500
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,500
D11 CTCP Địa Ốc 11 12,000
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 16,700
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,600
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 21,600
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 10,900
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 900
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 32,600
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 2,800
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 6,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,300
HDO CTCP Hưng Đạo Container 700
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 30,000
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 700
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,300
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,300
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 4,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 43,100
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 3,800
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 26,400
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 23,800
ADP CTCP Sơn Á Đông 13,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 14,500
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 13,000
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 10,900
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 500
CFC CTCP Cafico Việt Nam 15,900
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 5,900
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,900
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 70,100
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 8,600
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 47,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 16,500
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 25,000
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 9,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 12,400
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 15,000
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 17,000
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 21,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,900
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 19,400
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 8,800
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 2,000
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 35,700
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,800
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 7,300
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 18,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 7,500
HDM CTCP Dệt May Huế 22,500
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2019 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp