Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 0.00 0 (0%)
  • HNX-Index 0.00 0 (0%)
  • UPCOM-Index 0.00 0 (0%)
Kinh tế quốc tế
Giới đầu tư toàn cầu “tháo chạy” do lo ngại lạm phát cao kéo dài
Đăng 13/04/2024 | 09:56 GMT+7  |   VietStock
Trong bối cảnh lo ngại lạm phát cao và đồn đoán Fed giảm lãi suất vào tháng Sáu, các nhà đầu tư đã bán ra lượng lớn quỹ đầu tư cổ phần tuần thứ 2 liên tiếp trong tuần kết thúc vào ngày 10/4.

Giới đầu tư toàn cầu “tháo chạy” do lo ngại lạm phát cao kéo dài

Trong bối cảnh lo ngại lạm phát cao và đồn đoán Fed giảm lãi suất vào tháng Sáu, các nhà đầu tư đã bán ra lượng lớn quỹ đầu tư cổ phần tuần thứ 2 liên tiếp trong tuần kết thúc vào ngày 10/4.

Trong số các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư đã rút ròng 708 triệu USD ra khỏi lĩnh vực công nghệ, khép lại xu hướng mua vào kéo dài 12 tuần. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Các nhà đầu tư toàn cầu đã bán ra một lượng lớn quỹ đầu tư cổ phần tuần thứ hai liên tiếp trong tuần kết thúc vào ngày 10/4, trong bối cảnh lo ngại lạm phát cao dai dẳng và đồn đoán Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất vào tháng 6/2024.

Dữ liệu kinh tế công bố ngày 10/4 cho thấy giá tiêu dùng của Mỹ tăng hơn dự kiến trong tháng 3/2024, làm tăng thêm nghi ngờ về việc liệu Fed có bắt đầu cắt giảm lãi suất vào tháng Sáu hay không.

Các quỹ đầu tư chứng khoán toàn cầu đã chứng kiến dòng vốn chảy ra 2,9 tỷ USD trong tuần trên, trong đó các quỹ đầu tư chứng khoán của Mỹ và châu Á chứng kiến dòng vốn chảy ra lần lượt trị giá 2,7 tỷ USD và 1,9 tỷ USD. Trong khi đó, các quỹ cổ phần châu Âu đã thu được dòng vốn 891 triệu USD.

Trong số các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư đã rút ròng 708 triệu USD ra khỏi lĩnh vực công nghệ, khép lại xu hướng mua vào kéo dài 12 tuần.

Trái ngược với tình hình trên, trong quý đầu tiên của năm 2024, các quỹ đầu tư chứng khoán toàn cầu ghi nhận dòng vốn đổ vào mạnh mẽ 60 tỷ USD do nhà đầu tư dự đoán về việc Fed cắt giảm lãi suất, qua đó làm tăng sức hấp dẫn của chứng khoán toàn cầu.

Trong khi đó, các quỹ trái phiếu toàn cầu đã thu hút dòng vốn đổ vào mạnh mẽ, tích lũy được 12,8 tỷ USD trong tuần kết thúc ngày 10/4, do đồn đoán về việc Mỹ cắt giảm lãi suất trong thời gian tới đã giảm bớt.

Giám đốc đầu tư Mark Haefele của công ty quản lý tài sản UBS Global Wealth Management, đã điều chỉnh triển vọng khi dự đoán Fed có thể hạ lãi suất khoảng 50 điểm cơ bản bắt đầu từ tháng 9 thay vì tháng 6/2024.

Theo ông Mark Haefele, vì lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm ở mức 4,55% vào thời điểm thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa phiên 10/4, đây được coi là thời điểm hấp dẫn để chốt lời.

Lạm phát ở Mỹ liên tục cao hơn dự kiến cho thấy kỳ vọng trước đó của thị trường về lạm phát giảm là quá lạc quan.

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu tại tổ chức nghiên cứu ANBOUND, sự phức tạp của vấn đề lạm phát ở Mỹ đồng nghĩa với việc lạm phát sẽ không giảm nhanh như thị trường kỳ vọng.

Số liệu mới một lần nữa khẳng định tính dai dẳng của lạm phát ở Mỹ, điều này chắc chắn sẽ củng cố hơn nữa thái độ thận trọng của Fed trong việc cắt giảm lãi suất.

Trên thực tế, xét từ góc độ nguyên nhân, vấn đề lạm phát của Mỹ bao gồm các yếu tố ngắn hạn như sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch, giá năng lượng tăng cao do xung đột tại Ukraine cũng như việc phát hành tiền tệ quá do chính sách nới lỏng định lượng trước đó của Fed gây ra, và các yếu tố dài hạn của việc điều chỉnh chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điều này có nghĩa là ngay cả khi đợt tăng lãi suất mạnh mẽ của Fed đạt được kết quả vào năm ngoái thì chính sách tiền tệ cũng khó đạt được kết quả do những thay đổi trong các yếu tố dài hạn ảnh hưởng đến giá cả như rủi ro địa chính trị và điều chỉnh chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là yếu tố đằng sau tình trạng lạm phát dai dẳng dai dẳng ở Mỹ.

Ở góc độ cơ cấu, giảm phát hàng hóa tiếp tục nhưng đã chững lại, giảm 0,3% so với cùng kỳ, trong khi lạm phát ở ngành dịch vụ vẫn ở mức cao, tăng mạnh 5,2% so với cùng kỳ. Cái gọi là lạm phát siêu lõi, tức là chỉ số dịch vụ CPI lõi không bao gồm nhà ở, tăng 0,5% so với tháng trước và mức tăng so với cùng kỳ năm trước lên tới 4,5%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng 5/2023.

Theo học giả Hứa Duy Hồng thuộc ANBOUND, lạm phát của ngành dịch vụ có thể phản ánh tốt hơn sự gia tăng giá dịch vụ do chi phí lao động tăng cao. Nói cách khác, trong tình hình lạm phát cao trước đây, Mỹ hiện đã hình thành vòng tuần hoàn tích cực giữa tiền lương và lạm phát. Kiểu tăng giá do tiền lương tăng này rất khó thay đổi và khó thay đổi nhanh như giá hàng hóa trong ngắn hạn. Vì vậy, những thay đổi trong cơ cấu lạm phát thực chất phản ánh tính nội sinh của lạm phát Mỹ.

Biển thông báo tuyển nhân viên tại một cửa hàng ở New York, Mỹ. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Xem xét tình hình việc làm thắt chặt hiện nay ở Mỹ, thực tế rất có khả năng tiền lương của công nhân Mỹ sẽ tiếp tục tăng, điều đó có nghĩa là lạm phát nội sinh có thể mất nhiều thời gian hơn để đảo ngược.

Ngày 8/3, Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố dữ liệu cho thấy tháng 2/2024, 275.000 việc làm phi nông nghiệp mới đã được tạo ra ở Mỹ, cao hơn kỳ vọng của thị trường là 200.000.

Tỷ lệ thất nghiệp tăng 0,2 điểm phần trăm lên 3,9%, đạt mức cao nhất kể từ tháng 1/2022, cao hơn kỳ vọng của thị trường là 3,7%, nhưng vẫn dưới mức thấp 4%. Mức tăng lương trung bình mỗi giờ ở Mỹ trong tháng Hai đạt kỳ vọng của thị trường là 4,3% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường việc làm ở Mỹ vẫn tốt, đồng nghĩa với việc mức tăng lương sẽ không dễ dàng giảm xuống, cũng nghĩa là lạm phát ở Mỹ sẽ vẫn được duy trì trong một thời gian khá dài.

Nhà Trắng gần đây dự đoán CPI sẽ tăng trung bình 2,9% vào năm 2024 và không cho rằng tỷ lệ lạm phát ở Mỹ sẽ đạt mục tiêu 2% của Fed trong hai năm tới.

Cuộc điều tra Reuters cho thấy các nhà kinh tế dự đoán chỉ số giá PCE được Fed ưa chuộng sẽ tăng trưởng trung bình hàng năm là 2,2% trong năm nay và 2,0% vào năm 2025 và 2026.

Nhưng các thước đo lạm phát khác như CPI, CPI cơ bản và chỉ số giá PCE cốt lõi sẽ vẫn ở trên mức mục tiêu 2% của Fed cho đến ít nhất là năm 2026. Điều này thực sự cho thấy Fed vẫn còn một chặng đường dài để đánh bại lạm phát.

Mức độ lạm phát cao ở Mỹ khiến kỳ vọng của thị trường về việc Fed nới lỏng chính sách tiền tệ càng trở nên xa vời hơn.

Mặc dù lạm phát phản ánh nhu cầu mạnh mẽ trong nền kinh tế Mỹ và vẫn đang thúc đẩy thị trường chứng khoán Mỹ đi lên, nhưng điều đó cũng có nghĩa là Fed sẽ duy trì môi trường lãi suất cao trong thời gian dài hơn, điều này vẫn sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế Mỹ.

Trên thực tế, một số người tham gia thị trường đã bắt đầu kỳ vọng rằng Fed có thể hoãn thời điểm giảm lãi suất sang nửa cuối năm, thậm chí là quý 3. Thời gian qua đi, nếu lạm phát tiếp tục duy trì ở mức cao, chắc chắn sẽ gây ra biến động trên thị trường vốn.

Còn theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), sự nóng lên toàn cầu và các đợt nắng nóng dự kiến sẽ làm tăng giá lương thực và lạm phát trên toàn thế giới trong tương lai.

Nghiên cứu, được đăng trên tạp chí Communications Earth and Environment, nhấn mạnh tác động sẽ khác nhau nhưng sẽ xảy ra ở khắp mọi nơi, đặc biệt là tại các nước đang phát triển.

Các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu tác động khí hậu Potsdam (PIK) và ECB đã dựa trên dữ liệu lịch sử về giá cả và thời tiết từ 121 quốc gia từ năm 1996-2021.

Họ phát hiện rằng nhiệt độ tăng do biến đổi khí hậu được sẽ khiến chi phí lương thực trên toàn thế giới tăng từ 1,49-1,79 điểm phần trăm mỗi năm từ nay đến năm 2035.

Tương tự, ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ cực đoan trong tương lai đối với lạm phát chung sẽ là từ 0,76-0,91 điểm phần trăm trong trường hợp tốt nhất và xấu nhất./.

Minh Hằng

Vietnamplus


Kinh tế quốc tế

OSVP CTCP OSEVEN 17,000
2TCORP CTCP Kỹ thuật Công trình Việt Nam 22,000
AAAI CTCP Bảo hiểm AAA 7,900
AAFC CTCP Xây dựng và Kiến trúc AA 3,000
ABBANK Ngân hàng TMCP An Bình 14,220
F88 Công ty Cổ phần Kinh doanh F88 10,200
ABCI CTCP Liên Doanh Quốc Tế ABC 21,000
ABCG CTCP Truyền thông ABC 10,000
ABSC CTCP Chứng khoán An Bình 30,000
AVICON CTCP Công trình Hàng không 23,667
ACCCO CTCP Tư vấn Kiến trúc và Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh 11,400
VIGECAM TCT Vật tư Nông nghiệp - CTCP 15,000
ACSVN CTCP ACS Việt Nam 15,000
ADCC CTCP Xây dựng Trang trí Kiến trúc ADC 17,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
AESC CTCP XNK Nông sản và Thưc Phẩm Sài Gòn 45,000
AGRIMEXCM CTCP XNK Nông sản Thực phẩm Cà Mau 10,000
AGTC CTCP Du lịch An Giang - ANGIANG TOURIMEX 9,500
AGTEX28 Công ty 28 - AGTEX 12,500
VNAI CTCP Bảo hiểm Hàng không 9,200
AIRIMEX CTCP xuất nhập khẩu Hàng không 27,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
ALTC CTCP Âu Lạc 10,000
VNWIND CTCP Điện Cơ Thống Nhất 55,000
ALSIMEXCO CTCP Cung ứng & XNK Lao động Hàng không Việt Nam 15,000
UAMC CTCP Cơ khí ôtô Uông Bí 10,000
AMPHARCO CTCP Dược Phẩm Việt Nam - Ampharco 15,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
APC1 CTCP An Phú 8,000
APLACO CTCP Nhựa cao cấp Hàng Không 14,500
SAPT CTCP Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn 12,000
FLCS CTCP Chứng khoán FLC 15,000
ARTEXPORT CTCP Xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ 50,000
ARTEXTL CTCP Xuất Nhập khẩu Mỹ Nghệ Thăng Long 9,000
ASAC CTCP Tơ tằm Á Châu 11,000
ASECO Công ty cổ phần 32 27,750
BAROTEX CTCP Thương mại và Đầu tư Barotex Việt Nam 15,000
BASEAFOOD CTCP Chế biến XNK Thủy Sản Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 11,000
BBCC CTCP Xây dựng và Sản xuất Vật liệu Xây dựng Biên Hòa 20,000
BBDC CTCP Bao bì Dược 15,000
BC14 Công ty cổ phần Cầu số 14 50,000
BCRES CTCP Thương mại và Địa ốc Bình Chánh 19,000
BD10 CTCP Bạch Đằng 10 30,000
RTDC CTCP Phát triển Phát thanh Truyền hình 14,500
BDHC CTCP Thủy điện Bình Điền 10,000
BESEACO CTCP Thủy sản Bến Tre 12,000
BFIC CTCP Đầu tư Tài chính BIDV 2,500
BIANFISHCO CTCP Thủy sản Bình An 5,000
BICONSI CTCP Xây dựng Tư vấn Đầu tư Bình Dương 12,000
BIGAMEX CTCP May Bình Minh 14,000
TLD CTCP Đầu tư Xây dựng và Phát triển Đô thị Thăng Long 5,080
PHALE CTCP Sản xuất và Công nghệ Nhựa Pha Lê 21,200
EMC1 CTCP Cơ Điện Thủ Đức 11,000
EVNLC CTCP Bất động sản Điện lực Miền Trung 7,000
FPTS CTCP Chứng khoán FPT 12,000
HABECO Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội 60,000
HDBANK Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM 36,083
HTC1 CTCP Xi Măng Hà Tiên 1 16,000
HTT CTCP Thương mại Hà Tây 1,600
NCTS CTCP Dịch vụ Hàng hóa Nội Bài 77,000
PCC1 CTCP Xây Lắp Điện I 30,000
NT2 CTCP Điện Lực Dầu Khí Nhơn Trạch 2 22,600
PYMEPHARCO CTCP Pymepharco 45,000
SAB Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn 58,000
SHJC CTCP Thủy Điện Sê San 4A 10,000
TANCANG CTCP Đại lý Giao nhận Vận tải Xếp dỡ Tân Cảng 41,000
TCB Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 46,400
THI CTCP Thiết Bị Điện 29,000
TPBANK Ngân hàng TMCP Tiên Phong 33,000
TRAPHACO CTCP Traphaco 115,500
VCSC CTCP Chứng Khoán Bản Việt 60,000
VICOTEX TCT Việt Thắng - CTCP 30,000
VIETJET CTCP Hàng Không VIETJET 113,000
VNPD CTCP Phát triển Điện lực Việt Nam 13,000
VPBANK Ngân Hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng 43,000
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 34,800
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,600
BBC CTCP Bibica 49,750
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 16,400
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 109,800
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 16,900
CLC CTCP Cát Lợi 43,500
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 33,750
DHA CTCP Hóa An 44,000
DHG CTCP Dược Hậu Giang 117,400
DIC CTCP Đầu Tư &Thương Mại DIC 1,100
DMC CTCP XNK Y Tế Domesco 64,500
DRC CTCP Cao Su Đà Nẵng 33,400
DTT CTCP Kỹ Nghệ Đô Thành 20,900
FMC CTCP Thực Phẩm Sao Ta 51,000
FPT CTCP FPT 131,900
GIL CTCP SXKD & XNK Bình Thạnh 34,250
GMC CTCP SX-TM May Sài Gòn 9,050
GMD CTCP Gemadept 83,500
HAP CTCP Tập Đoàn Hapaco 4,720
HAS CTCP Hacisco 9,500
HAX CTCP Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh 14,900
HBC CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình 7,850
HMC CTCP Kim Khí Tp.HCM - Vnsteel 11,750
HRC CTCP Cao Su Hòa Bình 48,450
CAG CTCP Cảng An Giang 9,800
BLSEAFOOD CTCP Thủy sản Bạc Liêu 3,900
HPPO CTCP Cảng Hải Phòng 15,000
VVMI CTCP Xi Măng La Hiên VVMI 7,500
MAS CTCP Dịch Vụ Hàng Không Sân Bay Đà Nẵng 33,500
MASECO CTCP Dịch Vụ Phú Nhuận 23,000
NDF CTCP Chế Biến Thực Phẩm Nông Sản XK Nam Định 900
NIFERCO CTCP Phân Lân Ninh Bình 20,000
PLI3 CTCP Xây Lắp III Petrolimex 14,000
PC3I CTCP Đầu tư Điện lực 3 15,000
PVB CTCP Bọc Ống Dầu Khí Việt Nam 29,900
SDMC CTCP Thanh Hoa - Sông Đà 15,000
SHAL CTCP Nhôm Sông Hồng 12,000
VCIE CTCP Xuất Nhập Khẩu Than - Vinacomin 35,000
TNC1 CTCP Thống Nhất 13,500
TTCO CTCP Du Lịch - Thương Mại Tây Ninh 11,000
VITHAICO CTCP Dây Cáp Điện Việt Thái 10,800
VMJC CTCP Chế Tạo Máy - Vinacomin 12,000
VMDCO CTCP Phát Triển Hàng Hải 7,900
VNCT CTCP Kinh Doanh Than Miền Bắc - Vinacomin 24,329
VNPE3 CTCP Dược Phẩm Trung Ương 3 21,000
VOSA CTCP Đại lý Hàng hải Việt Nam 11,000
VTFI CTCP Thương Mại & Đầu Tư VINATABA 10,000
WSC CTCP Bến Xe Miền Tây 24,538
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 13,700
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 9,300
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 37,000
DNP CTCP Nhựa Đồng Nai 20,100
DPC CTCP Nhựa Đà Nẵng 6,700
DXP CTCP Cảng Đoạn Xá 13,300
NHC CTCP Gạch Ngói Nhị Hiệp 32,600
PMS CTCP Cơ Khí Xăng Dầu 33,000
SAF CTCP Lương Thực Thực Phẩm Safoco 49,000
SDN CTCP Sơn Đồng Nai 30,000
SFN CTCP Dệt Lưới Sài Gòn 20,100
SGC CTCP Xuất Nhập Khẩu Sa Giang 82,500
SGH CTCP Khách Sạn Sài Gòn 26,600
SJ1 CTCP Nông Nghiệp Hùng Hậu 11,800
TMC CTCP Thương Mại XNK Thủ Đức 8,200
UNI CTCP Viễn Liên 9,200
VGP CTCP Cảng Rau Quả 23,900
VTC CTCP Viễn Thông VTC 9,200
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 29,250
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 10,200
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 8,100
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,600
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 44,200
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 25,800
CMC CTCP Đầu Tư CMC 6,400
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 21,300
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 25,400
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 35,500
ACSC CTCP Xây Lắp Thương Mại 2 24,000
SAFE CTCP Thực Phẩm Nông Sản Xuất Khẩu Sài Gòn 25,000
APFCO CTCP Nông Sản Thực Phẩm Quảng Ngãi 63,000
IHK CTCP In Hàng Không 14,800
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 9,500
BC12 CTCP Cầu 12 11,000
BELCO CTCP Điện Tử Biên Hòa 12,500
BHHC CTCP Thủy điện Bắc Hà 10,457
BIDIPHAR CTCP Dược - Trang Thiết Bị Y Tế Bình Định 37,000
BLIC Tổng CTCP Bảo hiểm Bảo Long 4,000
BTTS CTCP Dịch Vụ Du Lịch Bến Thành 8,000
UDJ CTCP Phát triển Đô thị 9,500
BWACO CTCP Cấp nước Bà Rịa - Vũng Tàu 9,000
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,100
CAGIPHARM CTCP Dược Phẩm Cần Giờ 2,000
CAWASCO CTCP Cấp Thoát Nước Cần Thơ 8,500
CBSC CTCP Gang Thép Cao Bằng 25,000
CCIC CTCP Tư vấn và Đầu tư Xây dựng CCIC Hà Nội 8,500
CCHP CTCP Cảng Cửa Cấm Hải Phòng 8,500
CDJC CTCP Cầu Đuống 7,500
CECO CTCP Thiết Kế Công Nghiệp Hóa chất 10,500
CIEG CTCP Tập Đoàn Xây Dựng Và Thiết Bị Công Nghiệp 13,500
CHOLIMEX CTCP Xuất nhập khẩu và Đầu tư Chợ Lớn (CHOLIMEX) 10,500
CLMF CTCP Thực Phẩm Cholimex 20,000
CIPC CTCP Xây lắp và Sản xuất Công nghiệp 12,500
CLPI CTCP Đầu tư Cảng Cái Lân 13,000
COMA TCT Cơ khí Xây dựng - CTCP 10,500
COMIFOOD CTCP Lương Thực Thực Phẩm Colusa - Miliket 19,000
CONINCO CTCP Tư vấn Công nghệ Thiết Bị & Kiểm Định XD - Coninco 12,500
CPH CTCP Phục vụ Mai táng Hải Phòng 300
CPTP CTCP Nhiệt điện Cẩm Phả - TKV 10,000
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 7,300
THR CTCP Đường sắt Thuận Hải 41,700
DPHC CTCP Đạt Phương 15,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
DECOFI CTCP Xây Dựng và Thiết Kế Số 1 8,500
DIC1 CTCP Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng Số 1 10,500
DICTT CTCP Du Lịch & Thương Mại DIC 15,000
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 27,800
DNMB CTCP Đầu Tư Xây Dựng & Vật Liệu Đồng Nai 10,000
DOPETCO CTCP Vận Tải Xăng Dầu Đồng Tháp 12,500
DVSG CTCP Kính Viglacera Đáp Cầu 12,000
EMEC CTCP Điện Cơ 12,000
EMMC CTCP Cơ Điện Vật Tư 11,500
FISHIPCO CTCP Cơ Khí Đóng Tàu Thủy Sản Việt Nam 12,500
FOOCOSA CTCP Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh 12,667
FORIPHARM CTCP Dược Trung ương 3 19,000
FPTOL CTCP Dịch vụ Trực tuyến FPT 105,000
Xem thêm...
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2024 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp