Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +11.82 (+1.13%)
  • HNX-Index 122.39 +0.50 (+0.41%)
  • UPCOM-Index 58.33 +0.04 (+0.07%)
Tài chính ngân hàng
Bảo hiểm tiền gửi 100% khi phá sản ngân hàng?
Đăng 14/11/2017 | 21:38 GMT+7  |   NDH
Theo chương trình dự kiến, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng sẽ trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội kỳ họp này.

Trước thềm chất vấn, một lần nữa, vấn đề cho phá sản ngân hàng yếu kém và hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi được bàn đến.

Cũng trong khuôn khổ kỳ họp, Quốc hội thảo luận về sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, thậm chí 100% cả gốc lẫn lãi có trong ý kiến một số đại biểu.

Lồi lõm và cạnh tranh

Thảo luận tại nghị trường vừa qua, đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thuỷ cho rằng, sau khi nâng từ 50 triệu lên 75 triệu đồng, mức chi trả bảo hiểm tiền gửi vẫn quá thấp, vẫn cào bằng giữa các khoản tiền gửi.

Theo đó, ý kiến này cho rằng, khi có rủi ro, người gửi phải được nhận lại số tiền ứng với số đã gửi.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng cũng nêu yêu cầu khi ngân hàng phá sản thì phải trả cả tiền gốc, lãi cho người gửi, để tránh hiệu ứng rút tiền hàng loạt, gây đổ vỡ dây chuyền. Nếu không trả đúng, đủ cho người dân sẽ khiến họ mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Như trên, tình huống bảo hiểm tiền gửi chi trả 100% được đặt ra. Với giả định áp dụng, bên cạnh nguồn chi trả, có một "mặt trái" đối với hoạt động ngân hàng Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng sâu rộng.

Theo khuyến nghị của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI), hạn mức trả tiền bảo hiểm phù hợp phải thỏa mãn đồng thời hai yếu tố: hạn mức phải đủ cao để bảo vệ đại đa số người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ lẻ, có hiểu biết hạn chế; hạn mức phải đủ thấp để đảm bảo kỷ luật thị trường và hạn chế những rủi ro đạo đức xảy ra.

Ở yếu tố thứ hai, nếu chi trả 100%, diễn giải của IADI là tình huống người gửi tiền chỉ muốn gửi vào những ngân hàng có lãi suất cao mà không quan tâm đến rủi ro, do đã có bảo hiểm tiền gửi chi trả 100%, và khi đó các ngân hàng chạy đua lãi suất bất chấp rủi ro để thu hút người gửi tiền.

Tại mỗi quốc gia, từng giai đoạn hoặc bối cảnh của nền kinh tế, có những mức chi trả bảo hiểm tiền gửi cân bằng giữa hai yếu tố trên.

Tại Việt Nam, hạn mức cao hoặc mức chi trả 100% khó trải phẳng trên một bề mặt còn nhiều lồi lõm của hệ thống ngân hàng thương mại, nhất là về an toàn hoạt động và mức độ rủi ro giữa các thành viên.

Việt Nam có các thành phần ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước nắm sở hữu chi phối, ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài. Trong các khối có thành viên lớn, thành viên nhỏ, có nơi mạnh, có nơi yếu kém, mức độ minh bạch còn khác nhau; thậm chí có tình trạng ông chủ, cổ đông lớn thao túng, rút ruột, sân sau…

Nếu áp dụng, mức chi trả bảo hiểm tiền gửi 100% sẽ phủ kín và che lấp những lồi lõm đó đối với người gửi tiền, kìm hãm sự hoàn thiện của hệ thống.

Thực tế những năm qua, cạnh tranh thu hút tiền gửi tập trung ở vị thế thành phần (như của Nhà nước hoặc Nhà nước nắm tỷ lệ sở hữu chi phối), uy tín thương hiệu, độ phủ mạng lưới, các tiện ích giá trị gia tăng… Chênh lệch trong cạnh tranh này tập trung phản ánh ở lãi suất.

Trong các giai đoạn, phản ánh qua lãi suất, chênh lệch giữa các khối ngân hàngphổ biến có từ 1,5-2%/năm tùy kỳ hạn. Chênh lệch này tạo không gian để các thành viên có các lợi thế cạnh tranh khác thấp hơn ngoài lãi suất hít thở.

Và trong tình huống bảo hiểm tiền gửi chi trả 100% như trên, không gian cạnh tranh các yếu tố ngoài lãi suất bị triệt tiêu. Vì người gửi tiền có thể gửi bất cứ ngân hàng nào mà không ngại rủi ro đổ vỡ, miễn là có lãi suất hấp dẫn hơn. Sự lồi lõm này sẽ kích thích cuộc đua lãi suất thu hút tiền gửi ở các ngân hàng nhỏ và lan ra toàn hệ thống, mà hệ lụy và bất ổn liên quan cũng đã thể hiện giai đoạn vừa qua.

Hướng đến sự phân biệt?

Trao đổi với VnEconomy, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng, những vấn đề đặt ra về hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam hiện nay vẫn như từng thảo luận từ ba năm trước - cao điểm thực hiện tái cơ cấu ngân hàng, kể cả tình huống xem xét cho phá sản ngân hàng yếu kém.

"Quá thấp thì ít ý nghĩa đối với tác dụng có thể có của bảo hiểm tiền gửi, mà quá cao lại không tạo động lực hoàn thiện mình, gia tăng "rủi ro đạo đức" của tổ chức tín dụng. Theo đó, xác định hạn mức trả tiền bảo hiểm tối ưu (trong điều kiện tương đối bình thường) là không đơn giản", TS. Võ Trí Thành nhìn nhận.

Rủi ro đạo đức được hiểu, trong trường hợp có chi trả bảo hiểm tiền gửi 100%, một mặt người gửi tiền có xu hướng tùy tiện lựa chọn bất kỳ ngân hàng nào trả lãi suất cao để gửi tiền mà không quan tâm đến chất lượng hoạt động của họ; mặt khác chính ngân hàng có thể xem nhẹ rủi ro tiền gửi, trách nhiệm đối với người gửi tiền trong hoạt động kinh doanh.

Như trên, TS. Võ Trí Thành cho rằng, từ ba năm trước, khi đề cập đến vấn đề này, có những hướng đi được gợi mở. Đó là cơ chế áp dụng thu phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng.

"Kinh nghiệm thế giới, qua thời gian, đã chứng tỏ mô hình bảo hiểm tiền gửi chi trả với quyền hạn mở rộng hay mô hình bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro, và tương thích là việc xác định phí bảo hiểm tiền gửi theo rủi ro, được xem là mô hình phù hợp để thực hiện có hiệu quả các chức năng của bảo hiểm tiền gửi", TS. Thành phân tích.

Tuy nhiên, cơ chế trên đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống tiêu chí để phân loại, đánh giá chất lượng hoạt động mỗi thành viên. Hiện hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và áp dụng hiệu quả các chuẩn mực quản trị rủi ro, kiểm toán và kế toán theo thông lệ quốc tế. Hệ thống thông tin, thống kê cũng cần được tiếp tục hoàn thiện.

Chính vì vậy, việc định mức tín nhiệm, đánh giá rủi ro một cách thuyết phục đối với các ngân hàng còn cần nhiều nỗ lực, và cả thời gian.

Theo đó, chuyên gia Võ Trí Thành cho rằng, đối với việc xây dựng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi dựa trên mức độ rủi ro của ngân hàng, trước mắt xem xét thực hiện những "bài tập" mô phỏng. Và trên cơ sở thu nhận phản biện, nhất là của các cơ quan liên quan và tổ chức tín dụng, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi và sau đó có thể tiến hành thí điểm đối với một số thành viên trước khi áp đặt trên thực tế.

Mức phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro cũng có tác dụng kích thích các ngân hàng hoàn thiện mình, tăng cường an toàn hoạt động để giảm phí, thay vì mức phí áp dụng đồng hạng như hiện nay. Đây cũng là hướng bảo vệ người gửi tiền theo chiều sâu an toàn hoạt động, giảm thiểu tình huống phải đứng ra chi trả bằng bảo hiểm tiền gửi.

Tại buổi làm việc bởi Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam cách đây một năm, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đã nêu định hướng tính toán thận trọng lộ trình áp dụng cơ chế phí bảo hiểm phân biệt trong thời gian tới.

Còn tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các tổ chức tín dụng, Quốc hội đang xem xét một hướng mới: trao quyền cho Chính phủ quy định mức chi vượt hạn mức 75 triệu đồng. Tùy từng trường hợp cụ thể, Chính phủ có thể quy định mức chi 50%, 70%... 100% số tiền gửi vượt hạn mức để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế và xã hội.

Còn trên thực tế, hạn mức sau khi nâng lên 75 triệu đồng, theo số liệu từ Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, đã đảm bảo bảo vệ được nhiều người gửi tiền nhỏ, thiếu thông tin về hoạt động ngân hàng (chiếm hơn 80% người gửi tiền). Độ phủ này góp phần duy trì sự ổn định tâm lý của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng.

Và những năm qua, đặc biệt giai đoạn bất ổn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ 2018, niềm tin của người gửi tiền được củng cố mà không có hiện tượng rút tiền hàng loạt xảy ra.


Tài chính ngân hàng

USD “chìm” trong vùng đáy 3 năm do lo ngại Chính phủ Mỹ ngừng hoạt động

Tài chính ngân hàng  |   NDH  |   1 ngày trước

Đồng USD quay đầu giảm trở lại, rơi sát đáy 3 năm so với giỏ các đồng tiền chủ chốt trong phiên giao dịch châu Á sáng thứ Sáu (19/1) do lo ngại chính phủ Mỹ có thể phải đóng cửa ngừng hoạt động một phần nếu Quốc hội nước này không thông qua đúng hạn dự luật ngân sách.

ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
BGM CTCP Khai Thác & Chế Biến Khoáng Sản Bắc Giang 20,500
BHS Công ty TNHH MTV Đường TTC Biên Hòa - Đồng Nai 2,000
KSS CTCP Khoáng Sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận Tải & Giao Nhận Bia Sài Gòn 17,700
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi Măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
REM CTCP Tu bổ Di tích Trung ương - Vinaremon 300
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp Tác LĐ Với Nước Ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO TCT Cổ Phần Bưu Chính Viettel 59,375
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 33,000
ACC CTCP Bê Tông Becamex 20,300
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 8,200
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 8,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 8,700
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 5,800
ANV CTCP Nam Việt 13,500
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 78,700
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 11,100
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,810
BBC CTCP Bibica 87,900
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,600
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 39,050
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 35,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 26,900
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,700
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 35,700
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 84,200
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,100
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 11,800
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 38,800
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 75,400
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 38,100
C47 CTCP Xây Dựng 47 16,800
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 15,800
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 4,000
CDC CTCP Chương Dương 17,250
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 37,500
CLC CTCP Cát Lợi 68,100
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 4,950
CLL CTCP Cảng Cát Lái 27,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 18,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 26,900
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 9,400
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 22,000
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 4,530
CNG CTCP CNG Việt Nam 30,200
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 60,200
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,800
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 211,000
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 25,300
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 37,000
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 68,600
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 9,460
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 23,200
DHA CTCP Hóa An 33,200
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 47,500
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 39,500
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 16,000
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,400
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 9,500
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 24,900
AME CTCP Alphanam E&C 7,800
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 15,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 28,900
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 9,900
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 3,200
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 42,500
ASA CTCP Liên Doanh Sana WMT 3,800
B82 CTCP 482 2,500
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,100
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,000
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,100
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 3,600
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,700
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 9,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 17,600
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 10,600
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,500
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 20,600
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 17,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 9,800
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 28,500
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 28,900
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 30,400
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 10,400
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 23,500
CKV CTCP COKYVINA 14,500
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,500
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,000
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,600
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 37,000
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 27,500
CT6 CTCP Công Trình 6 6,000
CTA CTCP Vinavico 1,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,400
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 27,000
CVN CTCP Vinam 7,200
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 14,000
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 19,500
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 15,700
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 29,000
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 15,100
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,800
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 51,300
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,300
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 10,000
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,800
HDO CTCP Hưng Đạo Container 800
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 10,600
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 600
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,900
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,000
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,200
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 17,800
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 7,200
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 27,200
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 27,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 29,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 13,300
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 61,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 7,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 8,500
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 700
CFC CTCP Cafico Việt Nam 17,700
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 9,400
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 7,000
CZC CTCP Than Miền Trung 7,000
DAP CTCP Đông Á 27,500
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 3,600
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 20,100
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 15,000
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 10,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 7,500
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 13,300
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 13,600
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 14,000
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 14,600
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 8,700
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,700
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 15,500
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 7,800
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 600
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 37,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,900
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 8,900
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,600
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 4,900
HDM CTCP Dệt May Huế 26,500
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.