Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 890.69 -2.11 (-0.24%)
  • HNX-Index 108.31 +0.02 (+0.02%)
  • UPCOM-Index 52.98 -0.09 (-0.17%)
Tài chính ngân hàng
Bảo hiểm tiền gửi 100% khi phá sản ngân hàng?
Đăng 14/11/2017 | 21:38 GMT+7  |   NDH
Theo chương trình dự kiến, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng sẽ trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội kỳ họp này.

Trước thềm chất vấn, một lần nữa, vấn đề cho phá sản ngân hàng yếu kém và hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi được bàn đến.

Cũng trong khuôn khổ kỳ họp, Quốc hội thảo luận về sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, thậm chí 100% cả gốc lẫn lãi có trong ý kiến một số đại biểu.

Lồi lõm và cạnh tranh

Thảo luận tại nghị trường vừa qua, đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thuỷ cho rằng, sau khi nâng từ 50 triệu lên 75 triệu đồng, mức chi trả bảo hiểm tiền gửi vẫn quá thấp, vẫn cào bằng giữa các khoản tiền gửi.

Theo đó, ý kiến này cho rằng, khi có rủi ro, người gửi phải được nhận lại số tiền ứng với số đã gửi.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng cũng nêu yêu cầu khi ngân hàng phá sản thì phải trả cả tiền gốc, lãi cho người gửi, để tránh hiệu ứng rút tiền hàng loạt, gây đổ vỡ dây chuyền. Nếu không trả đúng, đủ cho người dân sẽ khiến họ mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Như trên, tình huống bảo hiểm tiền gửi chi trả 100% được đặt ra. Với giả định áp dụng, bên cạnh nguồn chi trả, có một "mặt trái" đối với hoạt động ngân hàng Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng sâu rộng.

Theo khuyến nghị của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI), hạn mức trả tiền bảo hiểm phù hợp phải thỏa mãn đồng thời hai yếu tố: hạn mức phải đủ cao để bảo vệ đại đa số người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ lẻ, có hiểu biết hạn chế; hạn mức phải đủ thấp để đảm bảo kỷ luật thị trường và hạn chế những rủi ro đạo đức xảy ra.

Ở yếu tố thứ hai, nếu chi trả 100%, diễn giải của IADI là tình huống người gửi tiền chỉ muốn gửi vào những ngân hàng có lãi suất cao mà không quan tâm đến rủi ro, do đã có bảo hiểm tiền gửi chi trả 100%, và khi đó các ngân hàng chạy đua lãi suất bất chấp rủi ro để thu hút người gửi tiền.

Tại mỗi quốc gia, từng giai đoạn hoặc bối cảnh của nền kinh tế, có những mức chi trả bảo hiểm tiền gửi cân bằng giữa hai yếu tố trên.

Tại Việt Nam, hạn mức cao hoặc mức chi trả 100% khó trải phẳng trên một bề mặt còn nhiều lồi lõm của hệ thống ngân hàng thương mại, nhất là về an toàn hoạt động và mức độ rủi ro giữa các thành viên.

Việt Nam có các thành phần ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước nắm sở hữu chi phối, ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài. Trong các khối có thành viên lớn, thành viên nhỏ, có nơi mạnh, có nơi yếu kém, mức độ minh bạch còn khác nhau; thậm chí có tình trạng ông chủ, cổ đông lớn thao túng, rút ruột, sân sau…

Nếu áp dụng, mức chi trả bảo hiểm tiền gửi 100% sẽ phủ kín và che lấp những lồi lõm đó đối với người gửi tiền, kìm hãm sự hoàn thiện của hệ thống.

Thực tế những năm qua, cạnh tranh thu hút tiền gửi tập trung ở vị thế thành phần (như của Nhà nước hoặc Nhà nước nắm tỷ lệ sở hữu chi phối), uy tín thương hiệu, độ phủ mạng lưới, các tiện ích giá trị gia tăng… Chênh lệch trong cạnh tranh này tập trung phản ánh ở lãi suất.

Trong các giai đoạn, phản ánh qua lãi suất, chênh lệch giữa các khối ngân hàngphổ biến có từ 1,5-2%/năm tùy kỳ hạn. Chênh lệch này tạo không gian để các thành viên có các lợi thế cạnh tranh khác thấp hơn ngoài lãi suất hít thở.

Và trong tình huống bảo hiểm tiền gửi chi trả 100% như trên, không gian cạnh tranh các yếu tố ngoài lãi suất bị triệt tiêu. Vì người gửi tiền có thể gửi bất cứ ngân hàng nào mà không ngại rủi ro đổ vỡ, miễn là có lãi suất hấp dẫn hơn. Sự lồi lõm này sẽ kích thích cuộc đua lãi suất thu hút tiền gửi ở các ngân hàng nhỏ và lan ra toàn hệ thống, mà hệ lụy và bất ổn liên quan cũng đã thể hiện giai đoạn vừa qua.

Hướng đến sự phân biệt?

Trao đổi với VnEconomy, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng, những vấn đề đặt ra về hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam hiện nay vẫn như từng thảo luận từ ba năm trước - cao điểm thực hiện tái cơ cấu ngân hàng, kể cả tình huống xem xét cho phá sản ngân hàng yếu kém.

"Quá thấp thì ít ý nghĩa đối với tác dụng có thể có của bảo hiểm tiền gửi, mà quá cao lại không tạo động lực hoàn thiện mình, gia tăng "rủi ro đạo đức" của tổ chức tín dụng. Theo đó, xác định hạn mức trả tiền bảo hiểm tối ưu (trong điều kiện tương đối bình thường) là không đơn giản", TS. Võ Trí Thành nhìn nhận.

Rủi ro đạo đức được hiểu, trong trường hợp có chi trả bảo hiểm tiền gửi 100%, một mặt người gửi tiền có xu hướng tùy tiện lựa chọn bất kỳ ngân hàng nào trả lãi suất cao để gửi tiền mà không quan tâm đến chất lượng hoạt động của họ; mặt khác chính ngân hàng có thể xem nhẹ rủi ro tiền gửi, trách nhiệm đối với người gửi tiền trong hoạt động kinh doanh.

Như trên, TS. Võ Trí Thành cho rằng, từ ba năm trước, khi đề cập đến vấn đề này, có những hướng đi được gợi mở. Đó là cơ chế áp dụng thu phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng.

"Kinh nghiệm thế giới, qua thời gian, đã chứng tỏ mô hình bảo hiểm tiền gửi chi trả với quyền hạn mở rộng hay mô hình bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro, và tương thích là việc xác định phí bảo hiểm tiền gửi theo rủi ro, được xem là mô hình phù hợp để thực hiện có hiệu quả các chức năng của bảo hiểm tiền gửi", TS. Thành phân tích.

Tuy nhiên, cơ chế trên đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống tiêu chí để phân loại, đánh giá chất lượng hoạt động mỗi thành viên. Hiện hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và áp dụng hiệu quả các chuẩn mực quản trị rủi ro, kiểm toán và kế toán theo thông lệ quốc tế. Hệ thống thông tin, thống kê cũng cần được tiếp tục hoàn thiện.

Chính vì vậy, việc định mức tín nhiệm, đánh giá rủi ro một cách thuyết phục đối với các ngân hàng còn cần nhiều nỗ lực, và cả thời gian.

Theo đó, chuyên gia Võ Trí Thành cho rằng, đối với việc xây dựng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi dựa trên mức độ rủi ro của ngân hàng, trước mắt xem xét thực hiện những "bài tập" mô phỏng. Và trên cơ sở thu nhận phản biện, nhất là của các cơ quan liên quan và tổ chức tín dụng, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi và sau đó có thể tiến hành thí điểm đối với một số thành viên trước khi áp đặt trên thực tế.

Mức phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro cũng có tác dụng kích thích các ngân hàng hoàn thiện mình, tăng cường an toàn hoạt động để giảm phí, thay vì mức phí áp dụng đồng hạng như hiện nay. Đây cũng là hướng bảo vệ người gửi tiền theo chiều sâu an toàn hoạt động, giảm thiểu tình huống phải đứng ra chi trả bằng bảo hiểm tiền gửi.

Tại buổi làm việc bởi Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam cách đây một năm, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đã nêu định hướng tính toán thận trọng lộ trình áp dụng cơ chế phí bảo hiểm phân biệt trong thời gian tới.

Còn tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Các tổ chức tín dụng, Quốc hội đang xem xét một hướng mới: trao quyền cho Chính phủ quy định mức chi vượt hạn mức 75 triệu đồng. Tùy từng trường hợp cụ thể, Chính phủ có thể quy định mức chi 50%, 70%... 100% số tiền gửi vượt hạn mức để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế và xã hội.

Còn trên thực tế, hạn mức sau khi nâng lên 75 triệu đồng, theo số liệu từ Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, đã đảm bảo bảo vệ được nhiều người gửi tiền nhỏ, thiếu thông tin về hoạt động ngân hàng (chiếm hơn 80% người gửi tiền). Độ phủ này góp phần duy trì sự ổn định tâm lý của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng.

Và những năm qua, đặc biệt giai đoạn bất ổn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ 2018, niềm tin của người gửi tiền được củng cố mà không có hiện tượng rút tiền hàng loạt xảy ra.


Tài chính ngân hàng

Gian lận thẻ ngân hàng: Thống đốc nói Việt Nam còn an toàn hơn nhiều so với thế giới

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   16 giờ trước

Thống đốc NHNN thừa nhận nguyên nhân gây ra tình trạng gian lận thẻ ATM đầu tiên là đến từ ngân hàng, đó là hệ thống ATM bị kẻ xấu cài đặt hệ thống sao chép dữ liệu, gây thiệt hại cho chủ thẻ; trong bảo mật thông tin cũng còn những lỗ hổng...

Cảnh báo vay tiêu dùng: Lãi suất thực gấp 3 lời chào mời, bị khủng bố đòi nợ

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   1 ngày trước

Người tiêu dùng thời gian vừa qua phản ánh tình trạng lãi suất thể hiện trên hợp đồng đều từ 3-5%/tháng (trong khi theo nhân viên tư vấn thông báo thì lãi suất chỉ từ 1-2%/tháng) hoặc xuất hiện các khoản phạt mà trước đó người tiêu dùng không được thông báo.

IFC cung cấp khoản vay dài hạn 185 triệu USD cho VIB

Tài chính ngân hàng  |   NDH  |   1 ngày trước

(NDH) Tổ chức Tài chính Quốc Tế(IFC) sẽ cung cấp khoản vay hợp vốn 185 triệu USD cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam nhằm giải quyết 2 thách thức tại Việt Nam là nhu cầu vốn chưa được đáp ứng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thiếu hụt nhà ở hợp túi tiền.

EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 15,350
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 83,500
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,700
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 2,800
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,200
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,400
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,600
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 9,900
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,580
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 4,700
AAM Công ty Cổ phần Thủy sản Mekong (MEKONGFISH) 10,200
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 26,050
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 22,200
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 8,700
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,150
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,280
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,760
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 67,600
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,650
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 5,970
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,600
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 31,600
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 30,500
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 24,050
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 15,750
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 34,000
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 87,000
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 10,350
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 36,000
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 52,500
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 37,000
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 17,000
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 15,000
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,800
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 16,800
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,500
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 64,900
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,900
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 23,700
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,500
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 27,600
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 15,250
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 231,000
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 20,600
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 28,950
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 2,300
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 61,400
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 9,320
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 21,800
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 33,600
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 36,500
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 100,000
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 3,900
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,170
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 16,300
DLG Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DUCLONG GIA LAI GROUP) 3,130
DMC Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco (DOMESCO ) 125,000
DPM Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí-CTCP (PVFCCo) 21,000
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 33,100
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,500
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 13,500
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 13,900
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 24,600
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,200
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 16,000
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 31,800
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 10,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,500
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,500
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,300
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 11,400
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 6,700
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 10,000
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 35,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,400
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 1,900
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 7,400
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,900
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 18,000
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 14,400
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 13,000
BTH Công ty Cổ phần Chế tạo Biến thế và Vật liệu điện Hà Nội (CTBT HN., JSC) 10,000
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 6,500
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,300
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 22,000
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 7,800
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 27,100
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 39,100
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 34,000
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 17,400
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,900
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 2,000
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,300
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 39,500
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,600
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,300
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 31,000
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 3,600
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 10,000
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 24,400
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 5,200
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 52,700
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,300
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 500
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 29,500
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,200
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,800
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 13,500
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 58,800
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 6,000
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 21,000
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 8,200
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 8,800
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 900
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 19,900
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 11,000
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 8,800
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 28,300
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 28,000
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 15,600
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 8,700
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 6,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,000
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 12,900
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 14,600
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 11,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 16,000
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,100
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 35,100
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,500
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,600
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 15,500
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 6,400
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 24,500
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 10,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,500
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 11,500
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 43,000
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 8,600
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 9,000
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 11,600
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 8,600
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 65,000
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 19,000
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2016 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.