Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 958.36 -5.11 (-0.53%)
  • HNX-Index 108.10 +0.18 (+0.17%)
  • UPCOM-Index 52.47 -0.23 (-0.45%)
Tài chính ngân hàng
Công khai "sức khỏe", tránh "sốc" khi cho phép phá sản ngân hàng yếu kém
Đăng 13/11/2017 | 07:50 GMT+7  |   CafeF
Các chuyên gia đồng tình với việc đã đến lúc cần cho phép phá sản ngân hàng yếu kém, nhưng vấn đề băn khoăn là việc công khai “sức khỏe” ngân hàng, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, tránh đổ vỡ hệ thống…

Phá sản là giải pháp cuối cùng

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng đang được Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, trong đó đáng chú ý có quy định về phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, phương án phá sản ngân hàng.

Trước đó, phá sản ngân hàng là điều chưa từng được quy định trong khung pháp lý hoạt động ngân hàng - tài chính của Việt Nam. Thực tiễn cũng chưa từng ghi nhận một trường hợp phá sản ngân hàng chính thức nào.

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ quan soạn thảo Dự án Luật, phương án phá sản ngân hàng sẽ do Chính phủ phê duyệt và sẽ là giải pháp cuối cùng khi tất cả các phương án phục hồi ngân hàng không thành công.

Cụ thể, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho rằng, với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu huy động tiền gửi để cấp tín dụng, việc phá sản tổ chức tín dụng có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền ồ ạt, đe dọa đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

Do đó, cơ quan soạn thảo đã rà soát, nghiên cứu rất kỹ các quy định tại phương án này nhằm bảo đảm sự thận trọng cần thiết. Theo đó, thẩm quyền quyết định chủ trương và phê duyệt phương án phá sản thuộc Chính phủ. Chủ trương phá sản chỉ xem xét theo nguyên tắc là biện pháp cuối cùng khi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không thành công các phương án khác (phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc chuyển giao bắt buộc).

Khi xây dựng phương án phá sản, phải đánh giá kỹ tác động của việc phá sản với sự an toàn hệ thống, rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế, quyền lợi của người gửi tiền.

Đồng tình với việc cho phép phá sản ngân hàng, luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch HĐTV Công ty luật Basico, Chủ nhiệm Câu lạc bộ pháp chế ngân hàng cho rằng thực tế việc phá sản ngân hàng cũng đã được quy định trong Luật Phá sản 2004, Luật Phá sản 2014 và Nghị định về phá sản ngân hàng. Theo luật sư này, ngân hàng thực chất cũng là một doanh nghiệp, do vậy cũng nên cho phép phá sản khi cần. Nhưng tất nhiên là phải thận trọng, trường hợp không có giải pháp nào thì mới cho phá sản ngân hàng. Quan trọng là phải quản lý thế nào để ngân hàng không đi đến bước phá sản.

“Sức khỏe” ngân hàng phải được công khai

Nhiều chuyên gia băn khoăn, nếu luật cho phép phá sản ngân hàng thì người dân cần có thông tin đầy đủ về “sức khỏe” của ngân hàng. Có một thực tế là hiện nay tất cả các đánh giá, xếp hạng ngân hàng của cơ quan quản lý chưa được công khai, người dân mới chỉ được tiếp cận các thông tin xếp hạng do các tổ chức tín nhiệm quốc tế công bố và không hẳn các thông tin về hoạt động kinh doanh ngân hàng đã đầy đủ.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước cũng đã thu thập xong ý kiến công luận về quy định xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng. Tuy nhiên, việc xếp hạng tín nhiệm ngân hàng theo quy định lại chỉ để phục vụ công tác quản lý Nhà nước chứ không được công khai. Điều này đặt ra câu hỏi, nếu không công khai xếp hạng ngân hàng thì liệu khi tổ chức tín dụng bị đặt vào các trường hợp cảnh báo, kiểm soát đặc biệt… người dân có biết không. Nếu người dân không có thông tin để chủ động về tiền gửi của mình thì khi ngân hàng xảy ra tình huống đột xuất sẽ khiến người dân thiệt hại lớn.

Giám đốc khối Khách hàng cá nhân một ngân hàng thương mại tầm trung cho rằng, hiện nay các ngân hàng nhỏ đang có xu hướng huy động tiền gửi lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn. Mức lãi suất huy động tại các ngân hàng nhỏ hiện nay có thể lên đến 8-9%, trong khi các ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước mức lãi suất chỉ khoảng 6-7%. Điều này giúp các ngân hàng nhỏ thu hút được người gửi, cạnh tranh nguồn vốn với ngân hàng lớn. Người dân gửi ở ngân hàng nhỏ vẫn yên tâm vì khoản tiền gửi gần như được bảo lãnh.

Nhưng nếu Nhà nước cho phép phá sản, dù là xác suất này rất thấp nhưng vẫn có thể ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền. Với những khoản tiền lớn khách hàng có thể phải cân nhắc gửi ở ngân hàng nào để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Do vậy có thể gây khó khăn cho việc huy động vốn của các ngân hàng nhỏ.

Nên tăng mức bảo hiểm tiền gửi?

Trên thực tế, trong suốt thời gian qua, hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại là không hề có “dấu ấn” từ bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, trong trường hợp phá sản ngân hàng thì lại khác. Mức bảo hiểm tiền gửi như thế nào lại cực kỳ quan trọng với người gửi tiền.

Tại nước ta, sau nhiều tranh cãi cuối cùng, mức bảo hiểm tiền gửi đã được quyết định tăng từ mức 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng. Số tiền bảo hiểm này được trả cho tất cả khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Theo các chuyên gia, mức bảo hiểm này đã là quá “lạc hậu” so với thực tiễn. Bởi bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người.

“Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” - chuyên gia tài chính - ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu nêu quan điểm.

Liên quan đến vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, để tránh đổ vỡ và gây mất an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm lợi ích của người gửi tiền, không ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Chính phủ có thể quyết định áp dụng việc chi trả vượt hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp phá sản tổ chức tín dụng.

Nguồn sử dụng để hỗ trợ chi trả sẽ không dùng ngân sách Nhà nước, theo đúng nghị quyết của Quốc hội, mà có thể sử dụng các nguồn lực Nhà nước khác để xử lý vấn đề này.

Các chuyên gia cũng cho rằng, khi ngân hàng đi đến bước phá sản, số tiền chi trả cho người gửi tiền ngoài từ nguồn lực của Nhà nước cũng cần tính đến các tài sản của ngân hàng. Theo đó, những tài sản thanh lý được thì ưu tiên chi trả lương cho cán bộ công nhân viên, tiếp đến là quyền lợi người gửi tiền, sau đó có thể là quyền lợi cổ đông và các chi phí khác.

“Bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người. Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” .

TS. Nguyễn Trí Hiếu (chuyên gia tài chính - ngân hàng)

Xem link bài gốc tại đây


Tài chính ngân hàng

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 23,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTPO TCT CP Bưu chính Viettel 104,347
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 12,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 43,350
ACC CTCP Bê Tông Becamex 18,300
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 18,500
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 6,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 10,200
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 3,550
ANV CTCP Nam Việt 23,400
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 40,700
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 10,800
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,680
BBC CTCP Bibica 78,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,540
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 25,500
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 34,600
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,200
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,850
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 61,700
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 8,060
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 12,100
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 33,250
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 92,000
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 30,000
C47 CTCP Xây Dựng 47 20,100
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 11,850
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 3,320
CDC CTCP Chương Dương 16,300
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 25,500
CLC CTCP Cát Lợi 36,000
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 3,270
CLL CTCP Cảng Cát Lái 27,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 17,200
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 20,500
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 6,990
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 18,650
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 7,700
CNG CTCP CNG Việt Nam 27,300
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 58,000
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 15,500
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 154,500
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 24,700
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 25,850
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 69,000
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 7,140
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 11,950
DHA CTCP Hóa An 29,000
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 43,500
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 31,000
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 17,600
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,400
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 2,500
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 19,700
AME CTCP Alphanam E&C 11,400
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 35,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 17,200
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 10,000
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 3,000
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 64,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 700
B82 CTCP 482 1,100
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 12,800
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 6,800
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 6,800
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 20,000
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 2,500
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,300
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 9,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 16,400
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 15,500
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 32,000
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 5,800
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 14,300
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 8,600
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 5,900
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 23,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 38,800
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 20,500
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 13,200
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 21,200
CKV CTCP COKYVINA 20,900
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,300
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,200
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,800
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 37,900
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 40,200
CT6 CTCP Công Trình 6 4,500
CTA CTCP Vinavico 500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 29,100
CTC CTCP Gia Lai CTC 4,100
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 29,000
CVN CTCP Vinam 5,400
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 10,000
D11 CTCP Địa Ốc 11 14,800
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 17,700
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,900
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 28,000
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 13,100
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,300
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 44,800
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,100
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 4,500
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 4,400
HDO CTCP Hưng Đạo Container 700
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 27,000
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 500
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,700
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,200
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,500
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 16,700
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 6,800
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 25,400
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 23,500
ADP CTCP Sơn Á Đông 18,800
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 12,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 49,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 17,800
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 5,700
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 500
CFC CTCP Cafico Việt Nam 18,900
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 8,600
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 17,000
CZC CTCP Than Miền Trung 9,400
DAP CTCP Đông Á 34,000
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 4,500
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 20,400
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 12,100
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 25,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 11,300
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 11,500
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 15,600
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 11,300
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 17,500
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 15,700
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 3,400
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 16,200
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 2,100
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 700
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 32,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 11,200
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 8,000
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 13,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 4,700
HDM CTCP Dệt May Huế 21,900
Xem thêm...
fpt capital mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.