Bạn chưa có c/p theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 903.55 +12.86 (+1.44%)
  • HNX-Index 108.11 -0.20 (-0.18%)
  • UPCOM-Index 53.32 +0.34 (+0.64%)
Tài chính ngân hàng
Công khai "sức khỏe", tránh "sốc" khi cho phép phá sản ngân hàng yếu kém
Đăng 13/11/2017 | 07:50 GMT+7  |   CafeF
Các chuyên gia đồng tình với việc đã đến lúc cần cho phép phá sản ngân hàng yếu kém, nhưng vấn đề băn khoăn là việc công khai “sức khỏe” ngân hàng, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, tránh đổ vỡ hệ thống…

Phá sản là giải pháp cuối cùng

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng đang được Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, trong đó đáng chú ý có quy định về phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, phương án phá sản ngân hàng.

Trước đó, phá sản ngân hàng là điều chưa từng được quy định trong khung pháp lý hoạt động ngân hàng - tài chính của Việt Nam. Thực tiễn cũng chưa từng ghi nhận một trường hợp phá sản ngân hàng chính thức nào.

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ quan soạn thảo Dự án Luật, phương án phá sản ngân hàng sẽ do Chính phủ phê duyệt và sẽ là giải pháp cuối cùng khi tất cả các phương án phục hồi ngân hàng không thành công.

Cụ thể, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho rằng, với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu huy động tiền gửi để cấp tín dụng, việc phá sản tổ chức tín dụng có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền ồ ạt, đe dọa đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

Do đó, cơ quan soạn thảo đã rà soát, nghiên cứu rất kỹ các quy định tại phương án này nhằm bảo đảm sự thận trọng cần thiết. Theo đó, thẩm quyền quyết định chủ trương và phê duyệt phương án phá sản thuộc Chính phủ. Chủ trương phá sản chỉ xem xét theo nguyên tắc là biện pháp cuối cùng khi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không thành công các phương án khác (phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc chuyển giao bắt buộc).

Khi xây dựng phương án phá sản, phải đánh giá kỹ tác động của việc phá sản với sự an toàn hệ thống, rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế, quyền lợi của người gửi tiền.

Đồng tình với việc cho phép phá sản ngân hàng, luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch HĐTV Công ty luật Basico, Chủ nhiệm Câu lạc bộ pháp chế ngân hàng cho rằng thực tế việc phá sản ngân hàng cũng đã được quy định trong Luật Phá sản 2004, Luật Phá sản 2014 và Nghị định về phá sản ngân hàng. Theo luật sư này, ngân hàng thực chất cũng là một doanh nghiệp, do vậy cũng nên cho phép phá sản khi cần. Nhưng tất nhiên là phải thận trọng, trường hợp không có giải pháp nào thì mới cho phá sản ngân hàng. Quan trọng là phải quản lý thế nào để ngân hàng không đi đến bước phá sản.

“Sức khỏe” ngân hàng phải được công khai

Nhiều chuyên gia băn khoăn, nếu luật cho phép phá sản ngân hàng thì người dân cần có thông tin đầy đủ về “sức khỏe” của ngân hàng. Có một thực tế là hiện nay tất cả các đánh giá, xếp hạng ngân hàng của cơ quan quản lý chưa được công khai, người dân mới chỉ được tiếp cận các thông tin xếp hạng do các tổ chức tín nhiệm quốc tế công bố và không hẳn các thông tin về hoạt động kinh doanh ngân hàng đã đầy đủ.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước cũng đã thu thập xong ý kiến công luận về quy định xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng. Tuy nhiên, việc xếp hạng tín nhiệm ngân hàng theo quy định lại chỉ để phục vụ công tác quản lý Nhà nước chứ không được công khai. Điều này đặt ra câu hỏi, nếu không công khai xếp hạng ngân hàng thì liệu khi tổ chức tín dụng bị đặt vào các trường hợp cảnh báo, kiểm soát đặc biệt… người dân có biết không. Nếu người dân không có thông tin để chủ động về tiền gửi của mình thì khi ngân hàng xảy ra tình huống đột xuất sẽ khiến người dân thiệt hại lớn.

Giám đốc khối Khách hàng cá nhân một ngân hàng thương mại tầm trung cho rằng, hiện nay các ngân hàng nhỏ đang có xu hướng huy động tiền gửi lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn. Mức lãi suất huy động tại các ngân hàng nhỏ hiện nay có thể lên đến 8-9%, trong khi các ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước mức lãi suất chỉ khoảng 6-7%. Điều này giúp các ngân hàng nhỏ thu hút được người gửi, cạnh tranh nguồn vốn với ngân hàng lớn. Người dân gửi ở ngân hàng nhỏ vẫn yên tâm vì khoản tiền gửi gần như được bảo lãnh.

Nhưng nếu Nhà nước cho phép phá sản, dù là xác suất này rất thấp nhưng vẫn có thể ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền. Với những khoản tiền lớn khách hàng có thể phải cân nhắc gửi ở ngân hàng nào để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Do vậy có thể gây khó khăn cho việc huy động vốn của các ngân hàng nhỏ.

Nên tăng mức bảo hiểm tiền gửi?

Trên thực tế, trong suốt thời gian qua, hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại là không hề có “dấu ấn” từ bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, trong trường hợp phá sản ngân hàng thì lại khác. Mức bảo hiểm tiền gửi như thế nào lại cực kỳ quan trọng với người gửi tiền.

Tại nước ta, sau nhiều tranh cãi cuối cùng, mức bảo hiểm tiền gửi đã được quyết định tăng từ mức 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng. Số tiền bảo hiểm này được trả cho tất cả khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Theo các chuyên gia, mức bảo hiểm này đã là quá “lạc hậu” so với thực tiễn. Bởi bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người.

“Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” - chuyên gia tài chính - ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu nêu quan điểm.

Liên quan đến vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, để tránh đổ vỡ và gây mất an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm lợi ích của người gửi tiền, không ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Chính phủ có thể quyết định áp dụng việc chi trả vượt hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp phá sản tổ chức tín dụng.

Nguồn sử dụng để hỗ trợ chi trả sẽ không dùng ngân sách Nhà nước, theo đúng nghị quyết của Quốc hội, mà có thể sử dụng các nguồn lực Nhà nước khác để xử lý vấn đề này.

Các chuyên gia cũng cho rằng, khi ngân hàng đi đến bước phá sản, số tiền chi trả cho người gửi tiền ngoài từ nguồn lực của Nhà nước cũng cần tính đến các tài sản của ngân hàng. Theo đó, những tài sản thanh lý được thì ưu tiên chi trả lương cho cán bộ công nhân viên, tiếp đến là quyền lợi người gửi tiền, sau đó có thể là quyền lợi cổ đông và các chi phí khác.

“Bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người. Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” .

TS. Nguyễn Trí Hiếu (chuyên gia tài chính - ngân hàng)

Xem link bài gốc tại đây


Tài chính ngân hàng

Giá bán các ngân hàng 0 đồng phải theo cơ chế thị trường

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   2 giờ trước

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết trên thực tế, giá trị thực của vốn điều lệ và quỹ dự trữ có thể âm song giá bán có thể bằng 0 đồng hoặc cao hơn 0 đồng, giá bán phần vốn góp vẫn phải do thị trường quyết định dựa trên sự đánh giá, xác thực về tài chính của tổ chức kiểm toán độc lập xác định.


EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 16,400
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 90,000
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,900
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 3,000
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,200
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,300
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,600
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 9,900
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,580
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 4,700
AAM Công ty Cổ phần Thủy sản Mekong (MEKONGFISH) 10,600
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 27,450
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 22,100
ACL Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (CL - Fish Corp ) 8,700
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 9,000
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,100
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,280
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,740
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 69,100
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,700
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,100
BBC Công ty Cổ phần Bibica (BIBICA) 102,000
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,630
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 31,750
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 30,400
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 24,000
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 16,000
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 33,000
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 92,500
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 10,300
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 10,450
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 33,500
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 52,400
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 37,000
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 16,700
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,720
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 17,400
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,950
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 64,000
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,900
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 18,000
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 25,100
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,600
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 27,600
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 15,300
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 227,600
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 20,800
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 28,000
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 2,300
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 61,600
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 9,500
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 21,650
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 33,550
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 36,500
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 101,600
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 3,830
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,010
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 16,250
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 32,800
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,500
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 13,300
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 13,900
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 24,600
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,200
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 16,500
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 31,800
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 10,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,500
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,400
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,300
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 11,400
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 6,500
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 10,000
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 35,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,400
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,000
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 7,400
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,900
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 18,000
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 14,400
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 13,100
BTH Công ty Cổ phần Chế tạo Biến thế và Vật liệu điện Hà Nội (CTBT HN., JSC) 10,000
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 6,400
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,500
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 21,000
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 7,100
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 25,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 39,200
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 33,600
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 17,400
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,900
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 2,000
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,300
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 39,500
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,700
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,300
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 31,000
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 3,600
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 9,850
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 24,500
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 5,300
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 51,800
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,000
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 500
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 29,500
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 28,800
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,800
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 13,800
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 58,800
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 6,000
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 21,000
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 9,300
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 8,800
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 900
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 19,900
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 11,000
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 8,800
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 28,300
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 32,700
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 15,600
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 10,100
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 6,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,000
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 12,900
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 14,600
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 11,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 15,300
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,100
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 34,300
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,500
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,000
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 13,200
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 6,400
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 24,000
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 10,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,400
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 12,000
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 43,000
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 7,400
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 9,000
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 10,600
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 8,600
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 65,000
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 19,000
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2017 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.