Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 -0.51 (-0.05%)
  • HNX-Index 121.59 -0.44 (-0.36%)
  • UPCOM-Index 57.87 -0.86 (-1.46%)
Tài chính ngân hàng
Công khai "sức khỏe", tránh "sốc" khi cho phép phá sản ngân hàng yếu kém
Đăng 13/11/2017 | 07:50 GMT+7  |   CafeF
Các chuyên gia đồng tình với việc đã đến lúc cần cho phép phá sản ngân hàng yếu kém, nhưng vấn đề băn khoăn là việc công khai “sức khỏe” ngân hàng, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, tránh đổ vỡ hệ thống…

Phá sản là giải pháp cuối cùng

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng đang được Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, trong đó đáng chú ý có quy định về phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, phương án phá sản ngân hàng.

Trước đó, phá sản ngân hàng là điều chưa từng được quy định trong khung pháp lý hoạt động ngân hàng - tài chính của Việt Nam. Thực tiễn cũng chưa từng ghi nhận một trường hợp phá sản ngân hàng chính thức nào.

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ quan soạn thảo Dự án Luật, phương án phá sản ngân hàng sẽ do Chính phủ phê duyệt và sẽ là giải pháp cuối cùng khi tất cả các phương án phục hồi ngân hàng không thành công.

Cụ thể, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho rằng, với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu huy động tiền gửi để cấp tín dụng, việc phá sản tổ chức tín dụng có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền ồ ạt, đe dọa đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

Do đó, cơ quan soạn thảo đã rà soát, nghiên cứu rất kỹ các quy định tại phương án này nhằm bảo đảm sự thận trọng cần thiết. Theo đó, thẩm quyền quyết định chủ trương và phê duyệt phương án phá sản thuộc Chính phủ. Chủ trương phá sản chỉ xem xét theo nguyên tắc là biện pháp cuối cùng khi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không thành công các phương án khác (phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc chuyển giao bắt buộc).

Khi xây dựng phương án phá sản, phải đánh giá kỹ tác động của việc phá sản với sự an toàn hệ thống, rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế, quyền lợi của người gửi tiền.

Đồng tình với việc cho phép phá sản ngân hàng, luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch HĐTV Công ty luật Basico, Chủ nhiệm Câu lạc bộ pháp chế ngân hàng cho rằng thực tế việc phá sản ngân hàng cũng đã được quy định trong Luật Phá sản 2004, Luật Phá sản 2014 và Nghị định về phá sản ngân hàng. Theo luật sư này, ngân hàng thực chất cũng là một doanh nghiệp, do vậy cũng nên cho phép phá sản khi cần. Nhưng tất nhiên là phải thận trọng, trường hợp không có giải pháp nào thì mới cho phá sản ngân hàng. Quan trọng là phải quản lý thế nào để ngân hàng không đi đến bước phá sản.

“Sức khỏe” ngân hàng phải được công khai

Nhiều chuyên gia băn khoăn, nếu luật cho phép phá sản ngân hàng thì người dân cần có thông tin đầy đủ về “sức khỏe” của ngân hàng. Có một thực tế là hiện nay tất cả các đánh giá, xếp hạng ngân hàng của cơ quan quản lý chưa được công khai, người dân mới chỉ được tiếp cận các thông tin xếp hạng do các tổ chức tín nhiệm quốc tế công bố và không hẳn các thông tin về hoạt động kinh doanh ngân hàng đã đầy đủ.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước cũng đã thu thập xong ý kiến công luận về quy định xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng. Tuy nhiên, việc xếp hạng tín nhiệm ngân hàng theo quy định lại chỉ để phục vụ công tác quản lý Nhà nước chứ không được công khai. Điều này đặt ra câu hỏi, nếu không công khai xếp hạng ngân hàng thì liệu khi tổ chức tín dụng bị đặt vào các trường hợp cảnh báo, kiểm soát đặc biệt… người dân có biết không. Nếu người dân không có thông tin để chủ động về tiền gửi của mình thì khi ngân hàng xảy ra tình huống đột xuất sẽ khiến người dân thiệt hại lớn.

Giám đốc khối Khách hàng cá nhân một ngân hàng thương mại tầm trung cho rằng, hiện nay các ngân hàng nhỏ đang có xu hướng huy động tiền gửi lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn. Mức lãi suất huy động tại các ngân hàng nhỏ hiện nay có thể lên đến 8-9%, trong khi các ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước mức lãi suất chỉ khoảng 6-7%. Điều này giúp các ngân hàng nhỏ thu hút được người gửi, cạnh tranh nguồn vốn với ngân hàng lớn. Người dân gửi ở ngân hàng nhỏ vẫn yên tâm vì khoản tiền gửi gần như được bảo lãnh.

Nhưng nếu Nhà nước cho phép phá sản, dù là xác suất này rất thấp nhưng vẫn có thể ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền. Với những khoản tiền lớn khách hàng có thể phải cân nhắc gửi ở ngân hàng nào để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Do vậy có thể gây khó khăn cho việc huy động vốn của các ngân hàng nhỏ.

Nên tăng mức bảo hiểm tiền gửi?

Trên thực tế, trong suốt thời gian qua, hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại là không hề có “dấu ấn” từ bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, trong trường hợp phá sản ngân hàng thì lại khác. Mức bảo hiểm tiền gửi như thế nào lại cực kỳ quan trọng với người gửi tiền.

Tại nước ta, sau nhiều tranh cãi cuối cùng, mức bảo hiểm tiền gửi đã được quyết định tăng từ mức 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng. Số tiền bảo hiểm này được trả cho tất cả khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Theo các chuyên gia, mức bảo hiểm này đã là quá “lạc hậu” so với thực tiễn. Bởi bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người.

“Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” - chuyên gia tài chính - ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu nêu quan điểm.

Liên quan đến vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, để tránh đổ vỡ và gây mất an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm lợi ích của người gửi tiền, không ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Chính phủ có thể quyết định áp dụng việc chi trả vượt hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp phá sản tổ chức tín dụng.

Nguồn sử dụng để hỗ trợ chi trả sẽ không dùng ngân sách Nhà nước, theo đúng nghị quyết của Quốc hội, mà có thể sử dụng các nguồn lực Nhà nước khác để xử lý vấn đề này.

Các chuyên gia cũng cho rằng, khi ngân hàng đi đến bước phá sản, số tiền chi trả cho người gửi tiền ngoài từ nguồn lực của Nhà nước cũng cần tính đến các tài sản của ngân hàng. Theo đó, những tài sản thanh lý được thì ưu tiên chi trả lương cho cán bộ công nhân viên, tiếp đến là quyền lợi người gửi tiền, sau đó có thể là quyền lợi cổ đông và các chi phí khác.

“Bảo hiểm tiền gửi theo thông lệ phải gấp 3-5 lần thu nhập bình quân đầu người. Với mức thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm năm 2005 là 715 USD (khoảng 10 triệu đồng) thì số tiền bảo hiểm của chúng ta lúc đó đã cao gấp 5 lần thu nhập bình quân trên đầu người. Thế nhưng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục qua nhiều năm và ước đạt khoảng 50 triệu đồng trong năm 2016, do đó, con số chi trả hợp lý phải từ 150 triệu đến 200 triệu đồng” .

TS. Nguyễn Trí Hiếu (chuyên gia tài chính - ngân hàng)

Xem link bài gốc tại đây


Tài chính ngân hàng

NHNN lại “lỏng tay” với giới hạn cho vay trung, dài hạn

Tài chính ngân hàng  |   NDH  |   1 ngày trước

Cuối tháng 12-2017, NHNN đã ban hành Thông tư số 19 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014, quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD. Đây là lần thứ hai thông tư này được sửa. Lần sửa thứ nhất là bởi Thông tư số 06/2016.

ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
BGM CTCP Khai Thác & Chế Biến Khoáng Sản Bắc Giang 20,500
BHS Công ty TNHH MTV Đường TTC Biên Hòa - Đồng Nai 2,000
KSS CTCP Khoáng Sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận Tải & Giao Nhận Bia Sài Gòn 17,700
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi Măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
REM CTCP Tu bổ Di tích Trung ương - Vinaremon 300
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp Tác LĐ Với Nước Ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO TCT Cổ Phần Bưu Chính Viettel 58,611
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,250
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 32,000
ACC CTCP Bê Tông Becamex 20,900
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 8,590
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 8,910
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 8,690
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 6,130
ANV CTCP Nam Việt 11,950
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 69,900
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 11,400
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,730
BBC CTCP Bibica 89,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,700
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 36,500
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 35,100
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 27,700
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,800
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 34,900
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 85,200
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,300
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 11,900
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 35,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 72,000
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 39,000
C47 CTCP Xây Dựng 47 17,500
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 15,800
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 4,200
CDC CTCP Chương Dương 17,200
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 38,000
CLC CTCP Cát Lợi 64,800
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 4,980
CLL CTCP Cảng Cát Lái 28,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 18,300
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 28,100
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 9,490
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 22,400
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 4,680
CNG CTCP CNG Việt Nam 30,700
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 62,000
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,700
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 216,200
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 26,600
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 34,500
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 64,900
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 9,780
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 23,000
DHA CTCP Hóa An 33,200
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 46,800
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 38,800
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 16,200
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,400
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 10,300
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 24,500
AME CTCP Alphanam E&C 6,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 15,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 28,900
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 9,900
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 3,300
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 38,700
ASA CTCP Liên Doanh Sana WMT 4,000
B82 CTCP 482 2,400
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,600
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,200
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,000
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,100
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 3,600
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 8,300
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 17,000
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 10,600
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,800
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 20,800
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 14,100
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 9,400
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 28,000
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 31,200
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 31,000
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 10,800
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 23,500
CKV CTCP COKYVINA 15,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 6,100
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,000
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,800
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 38,300
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 30,000
CT6 CTCP Công Trình 6 6,000
CTA CTCP Vinavico 1,000
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,700
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 25,500
CVN CTCP Vinam 7,300
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 13,400
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 19,900
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 16,500
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 29,700
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 15,300
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 2,000
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 57,200
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,700
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 10,000
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,600
HDO CTCP Hưng Đạo Container 800
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 10,600
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 600
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,900
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,000
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,200
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 17,800
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 7,100
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 27,800
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 27,200
ADP CTCP Sơn Á Đông 29,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 11,600
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 61,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 7,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 8,500
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 700
CFC CTCP Cafico Việt Nam 17,700
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 9,400
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 7,000
CZC CTCP Than Miền Trung 7,000
DAP CTCP Đông Á 27,500
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 3,600
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 20,100
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 13,800
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 10,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 7,500
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 13,300
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 13,600
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 14,000
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 14,600
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 8,700
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,700
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 15,500
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 7,800
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 600
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 36,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 5,700
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 8,900
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,600
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 4,900
HDM CTCP Dệt May Huế 23,600
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.