Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

VN-Index :   -0.23
805.35   (-0.03%)
GTGD :   3,221.6 tỷ VNĐ
HNX-Index :   +0.57
107.91   (+0.53%)
GTGD :   695.2 tỷ VNĐ
UPCOM-Index :   -0.16
54.26   (-0.30%)
GTGD :   85.4 tỷ VNĐ
VN30-Index :   +1.16
791.05   (+0.15%)
GTGD :   1,676.4 tỷ VNĐ
HNX30-Index :   +1.21
198.09   (+0.61%)
GTGD :   281.9 tỷ VNĐ
Tài chính ngân hàng
TS. Võ Trí Thành: NHNN đang đi đúng hướng
Đăng 18/05/2017 | 21:35 GMT+7  |   CafeF
Theo TS. Võ Trí Thành, kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua của NHNN chính là việc kết hợp thực thi CSTT có chủ đích lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng tâm, nhưng cũng đủ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, và phối hợp tốt hơn với các chính sách khác như chính sách tài khóa.

Ngày 18/5/2017, bên lề Cuộc họp quan chức cấp cao APEC (SOM 2) tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với TS.Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế về những nỗ lực của Chính Phủ và NHNN trong việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tăng trưởng.

PV: Gần đây Moody’s đã nâng triển vọng kinh tế Việt Nam và định mức tín nhiệm 8 ngân hàng thương mại từ ổn định lên tích cực, ông có đánh giá gì về kết quả này?

TS. Võ Trí Thành: ​Vào tháng 4/2017, Moody - một tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín trên thế giới, đã công bố xếp hạng tín nhiệm mới cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Một điểm nhấn là có 8 ngân hàng thương mại (NHTM), bao gồm 3 NHTM nhà nước và 5 ngân hàng cổ phần được nâng hạng từ mức ổn định lên mức tích cực B1.

Có thể nói đây là kết quả có ý nghĩa tích cực với hệ thống tài chính và NHTM Việt Nam.Và nền tảng cơ bản ở đây là việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này cho thấy ý nghĩa của cam kết và của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó Ngân hàng Nhà nước (NHNN), chính sách tiền tệ (CSTT) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Cũng với đó cũng phản ánh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, dù còn đối mặt với không ít thách thức, đã thu được kết quả bước đầu.

Việc nâng hạng tín nhiệm đem lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế, kết quả này ít nhiều cùng cố thêm lòng tin của thị trường vào hướng đi thích hợp của CSTT và trong nỗ lực cải cách hệ thống ngân hàng. Đến lượt mình, chính niềm tin thị trường hỗ trợ cho việc tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Cùng với đó, các NHTM được nâng hạng có thêm điều kiện huy động vốn, giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tín dụng với chi phí hợp lý hơn, với mức lãi suất thấp hơn.

Khi bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động, nhiều lo ngại rằng sẽ có không ít áp lực đối với việc điều hành CSTT. Còn quan điểm của ông thì sao?

​Có thể nói, công bố của Moody là tích cực và đặc biệt lại đạt được trong bối cảnh rất phức tạp, áp lực bên trong và bên ngoài đối với việc điều hành CSTT đều rất lớn, liên quan cả đến lãi suất, tỷ giá và hoạt động của các NHTM. Trong khi đó, NHNN lại phải thực hiện đồng thời 3 mục tiêu: đủ linh hoạt vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ có ý nghĩa cho sản xuất kinh doanh, tăng trưởng, đồng thời lại phải đẩy mạnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Làm được như vậy trong thời điểm này càng cho thấy sự kiên định của Chính Phủ và NHNN trong cam kết ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là từ năm 2011 cũng như những thách thức mà Chính phủ, NHNN phải xử lý.

​Có thể nói, NHNN đã nắm bắt tương đối sát sự vận động của nền kinh tế cùng sự tương tác với bên ngoài, cả qua thương mại, đầu tư, dịch chuyển vốn, và cả những thay đổi trái chiều trong thực thi CSTT của các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và nhiều nước có quan hệ kinh tế sâu rộng với Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Qua đó, NHNN có thể ứng xử một cách linh hoạt hơn đáp ứng những yêu cầu đối với CSTT và thực thi chương trình tái cấu trúc ngân hàng.

​Kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua của NHNN chính là việc kết hợp thực thi CSTT có chủ đích lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng tâm, nhưng cũng đủ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, và phối hợp tốt hơn với các chính sách khác như chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tránh được “sốc”, tiếp tục hoạt động tương đối bình thường trong quan hệ ngân hàng – doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp khi tham dự hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp ngày 17/5 tiếp tục kiến nghị giảm mức lãi suất cho vay thấp hơn nữa, ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?

Doang nghiệp luôn có mong muốn được hưởng mức lãi suất thấp, nhất là trong bối cảnh các chi phí còn cao, cạnh tranh gay gắt và vốn đầu tư, sản xuất kinh doanh phụ thuộc lớn và ngân hàng, thì cũng là điều rất thích đáng.

Song cũng phải nói thật và rõ rằng, một điều quan trọng nhất để lãi suất có thể thấp là kinh tế vĩ mô phải ổn định và lạm phát phải ở mức thấp. Nếu kỳ vọng lạm phát còn cao và niềm tin vào khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô yếu thì rất khó, nếu không nói là không thể, đạt được điều đó. Kinh nghiệm ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đều cho thấy như vậy.

Như Myanmar, hiện lãi suất cho vay khoảng13%/năm (do hiện có không ít chiều cạnh không tốt trong kinh tế vĩ mô, lạm phát hai con số), Indonesia là 11,9%/năm (do thâm hụt ngân sách và dông nội tệ mất giá mạnh), Thái Lan là 6,3%/năm, Singapore là 5,4%/năm.

Một số nước phát triển (như Nhật Bản) có lãi suất cho vay thấp là vì: (i) Lạm phát ở mức rất thấp, kinh tế vĩ mô ổn định; (ii) Khả năng dự báo và hoạch định kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cao; (iii) Hoạt động SXKD của doanh nghiệp không quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Cùng với ổn định kinh tế vĩ mô, neo kỳ vọng lạm phát dưới 4-5%, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm khá nhiều, chỉ bằng 40% mức cuối năm 2011 thì mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của Việt Nam hiện nay khoảng 6-11%/năm, lãi suất cho vay bằng ngoại tệ trong khoảng 3-4% là ở mức chấp nhận được trong tương quan với kinh tế vĩ mô.

Từ năm 2016, kỳ vọng lạm phát có xu hướng tăng, mục tiêu phục hồi tăng trưởng và phát hành trái phiếu Chính phủ tiếp tục ở mức cao tạo áp lực đến cầu vốn tín dụng. Các cân đối vĩ mô lớn của nền kinh tế, như cân đối ngân sách, thiếu bền vững, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn. Đó là chưa nói tới việc thị trường cổ phiếu và trái phiếu chưa đủ phát triển, vốn đầu tư cho phát triển kinh tế phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Các yếu tố này đều ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD. Tuy vậy, điều hành CSTT của NHNN cũng tạo ít nhiều dư địa để một số NHTM giảm 0,3-0,5%/năm lãi suất huy động, 0,5-1%/năm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.

​Lưu ý là một nguồn vốn lớn vẫn chưa được khơi thông do đang nằm ở các khoản nợ xấu và các tài sản bảo đảm chưa được xử lý. Chính phủ đang trình Quốc hội để sớm có Nghị quyết về xử lý nợ xấu, tạo điều kiện mở rộng cho vay phát triển sản xuất kinh doanh với chi phí rẻ hơn.

​Ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ là nền tảng giúp tăng cường sức khỏe của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính nói chung, hạ lãi suất, mà còn còn hạn chế đầu cơ, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, và đó chính là một mục tiêu quan trọng nhất của nỗ lực tái cơ cấu nền kinh tế.

Theo ông những thách thức trong điều hành CSTT trong thời gian tới là gì?

​Mức xếp hạng tích cực B1 cho 8 NHTM là một bước tiến đáng ghi nhận. thế nhưng cũng phải nói rằng, còn nhiều NHTM chưa được nâng mưc tín nhiệm, vẫn ở mức ổn định, thậm chí còn có NHTM ở mức tiêu cực. Điều đó nói lên thách thức với Việt Nam, với NHNN, với các NHTM còn rất lớn. Chúng ta hiểu và đang nỗ lực, quyết tâm có cách thức xử lý khoa học, quyết liệt những vấn đề đang phải đối mặt.

​Một là chúng ta phải tiếp tục kiên định cam kết và thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, với đòi hỏi thực tế hiện nay, thì CSTT, cải cách ngân hàng vẫn cần đáp ứng quá trình phục hồi kinh tế, hỗ trợ có ý nghĩa hoạt động sản xuất kinh doanh. Cách làm vừa qua của NHNN đã đi đúng hướng, lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm chốt, cùng nắm bắt thời điểm với đầy đủ thông tin về kinh tế trong và ngoài nước, để có mức độ linh hoạt ví dụ đối với cung tiền, đối với lãi suất, tỷ giá để giữ được ổn định, tránh những cú “sốc” không mong muốn, đồng thời hỗ trợ cho tăng trưởng. Cùng với đó là sự phối hợp cần nhuần nhuyễn hơn với các chính sách khác, đặc biệt là chính sách tài khóa.

​Hai là cần tiếp tục nỗ lực tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với các chiều cạnh quan trọng nhất. Đó là: tăng cường khả năng giám sát của NHNN và các cơ quan giám sát tài chính khác cùng với sự minh bạch, có giải trình đối với thị trường và công chúng, thông qua những cách thức truyền thông kịp thời và đa dạng với tiếng nói của người lãnh đạo; xử lý triệt để, thực chất nợ xấu; và xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém. Cùng với đó là tăng cường “sự lành mạnh” của hệ thống ngân hàng bằng việc yêu cầu đáp ứng tốt và nhanh hơn những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản trị (như Basel II và cũng phải bắt đầu tính đến cả những khía cạnh của Basel III), thông quá quá trình cổ phần hóa, mua bán & sáp nhập để thu hút các nhà đầu tư chiến lược thức sự có ưu thế về vốn, kỹ năng quản trị, công nghệ.

Những đòi hỏi trên sẽ khó hiện thực hóa tốt nếu thiếu sự phối hợp kịp thời, thông suốt đối với các Bộ Ngành trong đó đặc biệt có Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường...

​Như tôi đã nói, chúng ta thấy được thách thức, chúng ta hiểu vấn đề và chúng ta đã làm, đã cải cách và bước đầu có những kết quả đáng ghi nhận nhất định. Tuy nhiên câu chuyện này còn phải tiếp tục trong trung và dài hạn, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động hết sức nhanh chóng, với nhiều xu thế mới, đòi hỏi NHNN phải thích ứng và xử lý thấu đáo, như sự phát triển vượt bậc về công nghệ, những thay đổi về chất trong cách thức sản xuất kinh doanh, giao dịch tài chính và tiền điện tử, sự nổi lên của tầng lớp trung lưu,... Đó là chưa nói tới sớm hay muộn chúng ta dần phải làm (một cách khéo léo và có lộ trình) việc mở cửa tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế và tự do hóa tài chính hơn nữa.

Quỳnh Mai

Theo Trí thức trẻ


Tài chính ngân hàng

EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 17,950
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 59,100
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 8,900
HVA Công tyCổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 2,900
HKB CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC PHẨM HÀ NỘI - KINH BẮC 3,100
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 3,200
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,700
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 7,700
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
SABECO Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn 168,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO CTCP Bưu chính Viettel 56,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 4,500
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 4,500
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 33,800
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 24,900
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,200
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,950
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 8,740
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 44,000
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 11,150
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,780
BCE Công ty Cổ phần Xây dựng và Giao thông Bình Dương (Becamex BCE) 5,800
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 29,800
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 34,650
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 20,400
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 17,050
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 29,400
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 76,400
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 11,500
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 11,700
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 40,500
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 55,800
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 34,400
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 22,900
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 16,000
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 5,140
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 16,500
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,600
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 73,500
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,700
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 27,000
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 19,900
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 17,100
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 9,990
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,600
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 29,000
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,450
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 209,100
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 19,450
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 30,350
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 1,900
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 52,700
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 13,150
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 23,650
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 35,550
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 30,450
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 108,000
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 5,110
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,620
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 16,150
DLG Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DUCLONG GIA LAI GROUP) 4,070
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) 30,600
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 15,100
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 13,300
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 12,000
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 26,000
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,100
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 13,800
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 33,900
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 11,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,800
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,800
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,200
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,900
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,500
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 13,500
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 9,800
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 9,900
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 38,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,800
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 3,000
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 7,600
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,500
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 17,000
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 16,000
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 11,600
BTH Công ty Cổ phần Chế tạo Biến thế và Vật liệu điện Hà Nội (CTBT HN., JSC) 9,300
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 6,000
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 20,200
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 19,300
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 6,900
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 27,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 38,600
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 47,600
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 19,800
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,600
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 3,600
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,700
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 36,500
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,900
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,700
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 27,400
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 4,500
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 11,850
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 20,100
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 5,500
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 52,000
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,000
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 600
ABI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) 29,000
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,000
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,700
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 15,000
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 42,000
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 5,300
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 15,500
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 8,500
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 4,800
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 1,100
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 14,400
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 16,500
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 9,600
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 31,600
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 23,000
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 16,000
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 19,600
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 6,900
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,200
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 13,500
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 17,400
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 18,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 15,000
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,100
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 33,500
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,300
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,100
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 14,200
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 5,300
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 25,000
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 10,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 5,900
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 13,600
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 45,000
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 8,100
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 8,700
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 21,900
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 9,000
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 56,000
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 10,400
Xem thêm...
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2016 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.