Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 +14.88 (+1.42%)
  • HNX-Index 122.46 +0.56 (+0.46%)
  • UPCOM-Index 58.33 +0.04 (+0.07%)
Tài chính ngân hàng
TS. Võ Trí Thành: NHNN đang đi đúng hướng
Đăng 18/05/2017 | 21:35 GMT+7  |   CafeF
Theo TS. Võ Trí Thành, kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua của NHNN chính là việc kết hợp thực thi CSTT có chủ đích lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng tâm, nhưng cũng đủ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, và phối hợp tốt hơn với các chính sách khác như chính sách tài khóa.

Ngày 18/5/2017, bên lề Cuộc họp quan chức cấp cao APEC (SOM 2) tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với TS.Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế về những nỗ lực của Chính Phủ và NHNN trong việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tăng trưởng.

PV: Gần đây Moody’s đã nâng triển vọng kinh tế Việt Nam và định mức tín nhiệm 8 ngân hàng thương mại từ ổn định lên tích cực, ông có đánh giá gì về kết quả này?

TS. Võ Trí Thành: ​Vào tháng 4/2017, Moody - một tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín trên thế giới, đã công bố xếp hạng tín nhiệm mới cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Một điểm nhấn là có 8 ngân hàng thương mại (NHTM), bao gồm 3 NHTM nhà nước và 5 ngân hàng cổ phần được nâng hạng từ mức ổn định lên mức tích cực B1.

Có thể nói đây là kết quả có ý nghĩa tích cực với hệ thống tài chính và NHTM Việt Nam.Và nền tảng cơ bản ở đây là việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này cho thấy ý nghĩa của cam kết và của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó Ngân hàng Nhà nước (NHNN), chính sách tiền tệ (CSTT) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Cũng với đó cũng phản ánh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, dù còn đối mặt với không ít thách thức, đã thu được kết quả bước đầu.

Việc nâng hạng tín nhiệm đem lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế, kết quả này ít nhiều cùng cố thêm lòng tin của thị trường vào hướng đi thích hợp của CSTT và trong nỗ lực cải cách hệ thống ngân hàng. Đến lượt mình, chính niềm tin thị trường hỗ trợ cho việc tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Cùng với đó, các NHTM được nâng hạng có thêm điều kiện huy động vốn, giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tín dụng với chi phí hợp lý hơn, với mức lãi suất thấp hơn.

Khi bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động, nhiều lo ngại rằng sẽ có không ít áp lực đối với việc điều hành CSTT. Còn quan điểm của ông thì sao?

​Có thể nói, công bố của Moody là tích cực và đặc biệt lại đạt được trong bối cảnh rất phức tạp, áp lực bên trong và bên ngoài đối với việc điều hành CSTT đều rất lớn, liên quan cả đến lãi suất, tỷ giá và hoạt động của các NHTM. Trong khi đó, NHNN lại phải thực hiện đồng thời 3 mục tiêu: đủ linh hoạt vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ có ý nghĩa cho sản xuất kinh doanh, tăng trưởng, đồng thời lại phải đẩy mạnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Làm được như vậy trong thời điểm này càng cho thấy sự kiên định của Chính Phủ và NHNN trong cam kết ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là từ năm 2011 cũng như những thách thức mà Chính phủ, NHNN phải xử lý.

​Có thể nói, NHNN đã nắm bắt tương đối sát sự vận động của nền kinh tế cùng sự tương tác với bên ngoài, cả qua thương mại, đầu tư, dịch chuyển vốn, và cả những thay đổi trái chiều trong thực thi CSTT của các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và nhiều nước có quan hệ kinh tế sâu rộng với Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Qua đó, NHNN có thể ứng xử một cách linh hoạt hơn đáp ứng những yêu cầu đối với CSTT và thực thi chương trình tái cấu trúc ngân hàng.

​Kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua của NHNN chính là việc kết hợp thực thi CSTT có chủ đích lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng tâm, nhưng cũng đủ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, và phối hợp tốt hơn với các chính sách khác như chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tránh được “sốc”, tiếp tục hoạt động tương đối bình thường trong quan hệ ngân hàng – doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp khi tham dự hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp ngày 17/5 tiếp tục kiến nghị giảm mức lãi suất cho vay thấp hơn nữa, ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?

Doang nghiệp luôn có mong muốn được hưởng mức lãi suất thấp, nhất là trong bối cảnh các chi phí còn cao, cạnh tranh gay gắt và vốn đầu tư, sản xuất kinh doanh phụ thuộc lớn và ngân hàng, thì cũng là điều rất thích đáng.

Song cũng phải nói thật và rõ rằng, một điều quan trọng nhất để lãi suất có thể thấp là kinh tế vĩ mô phải ổn định và lạm phát phải ở mức thấp. Nếu kỳ vọng lạm phát còn cao và niềm tin vào khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô yếu thì rất khó, nếu không nói là không thể, đạt được điều đó. Kinh nghiệm ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đều cho thấy như vậy.

Như Myanmar, hiện lãi suất cho vay khoảng13%/năm (do hiện có không ít chiều cạnh không tốt trong kinh tế vĩ mô, lạm phát hai con số), Indonesia là 11,9%/năm (do thâm hụt ngân sách và dông nội tệ mất giá mạnh), Thái Lan là 6,3%/năm, Singapore là 5,4%/năm.

Một số nước phát triển (như Nhật Bản) có lãi suất cho vay thấp là vì: (i) Lạm phát ở mức rất thấp, kinh tế vĩ mô ổn định; (ii) Khả năng dự báo và hoạch định kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cao; (iii) Hoạt động SXKD của doanh nghiệp không quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Cùng với ổn định kinh tế vĩ mô, neo kỳ vọng lạm phát dưới 4-5%, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm khá nhiều, chỉ bằng 40% mức cuối năm 2011 thì mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của Việt Nam hiện nay khoảng 6-11%/năm, lãi suất cho vay bằng ngoại tệ trong khoảng 3-4% là ở mức chấp nhận được trong tương quan với kinh tế vĩ mô.

Từ năm 2016, kỳ vọng lạm phát có xu hướng tăng, mục tiêu phục hồi tăng trưởng và phát hành trái phiếu Chính phủ tiếp tục ở mức cao tạo áp lực đến cầu vốn tín dụng. Các cân đối vĩ mô lớn của nền kinh tế, như cân đối ngân sách, thiếu bền vững, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn. Đó là chưa nói tới việc thị trường cổ phiếu và trái phiếu chưa đủ phát triển, vốn đầu tư cho phát triển kinh tế phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Các yếu tố này đều ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD. Tuy vậy, điều hành CSTT của NHNN cũng tạo ít nhiều dư địa để một số NHTM giảm 0,3-0,5%/năm lãi suất huy động, 0,5-1%/năm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.

​Lưu ý là một nguồn vốn lớn vẫn chưa được khơi thông do đang nằm ở các khoản nợ xấu và các tài sản bảo đảm chưa được xử lý. Chính phủ đang trình Quốc hội để sớm có Nghị quyết về xử lý nợ xấu, tạo điều kiện mở rộng cho vay phát triển sản xuất kinh doanh với chi phí rẻ hơn.

​Ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ là nền tảng giúp tăng cường sức khỏe của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính nói chung, hạ lãi suất, mà còn còn hạn chế đầu cơ, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, và đó chính là một mục tiêu quan trọng nhất của nỗ lực tái cơ cấu nền kinh tế.

Theo ông những thách thức trong điều hành CSTT trong thời gian tới là gì?

​Mức xếp hạng tích cực B1 cho 8 NHTM là một bước tiến đáng ghi nhận. thế nhưng cũng phải nói rằng, còn nhiều NHTM chưa được nâng mưc tín nhiệm, vẫn ở mức ổn định, thậm chí còn có NHTM ở mức tiêu cực. Điều đó nói lên thách thức với Việt Nam, với NHNN, với các NHTM còn rất lớn. Chúng ta hiểu và đang nỗ lực, quyết tâm có cách thức xử lý khoa học, quyết liệt những vấn đề đang phải đối mặt.

​Một là chúng ta phải tiếp tục kiên định cam kết và thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, với đòi hỏi thực tế hiện nay, thì CSTT, cải cách ngân hàng vẫn cần đáp ứng quá trình phục hồi kinh tế, hỗ trợ có ý nghĩa hoạt động sản xuất kinh doanh. Cách làm vừa qua của NHNN đã đi đúng hướng, lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm chốt, cùng nắm bắt thời điểm với đầy đủ thông tin về kinh tế trong và ngoài nước, để có mức độ linh hoạt ví dụ đối với cung tiền, đối với lãi suất, tỷ giá để giữ được ổn định, tránh những cú “sốc” không mong muốn, đồng thời hỗ trợ cho tăng trưởng. Cùng với đó là sự phối hợp cần nhuần nhuyễn hơn với các chính sách khác, đặc biệt là chính sách tài khóa.

​Hai là cần tiếp tục nỗ lực tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với các chiều cạnh quan trọng nhất. Đó là: tăng cường khả năng giám sát của NHNN và các cơ quan giám sát tài chính khác cùng với sự minh bạch, có giải trình đối với thị trường và công chúng, thông qua những cách thức truyền thông kịp thời và đa dạng với tiếng nói của người lãnh đạo; xử lý triệt để, thực chất nợ xấu; và xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém. Cùng với đó là tăng cường “sự lành mạnh” của hệ thống ngân hàng bằng việc yêu cầu đáp ứng tốt và nhanh hơn những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản trị (như Basel II và cũng phải bắt đầu tính đến cả những khía cạnh của Basel III), thông quá quá trình cổ phần hóa, mua bán & sáp nhập để thu hút các nhà đầu tư chiến lược thức sự có ưu thế về vốn, kỹ năng quản trị, công nghệ.

Những đòi hỏi trên sẽ khó hiện thực hóa tốt nếu thiếu sự phối hợp kịp thời, thông suốt đối với các Bộ Ngành trong đó đặc biệt có Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường...

​Như tôi đã nói, chúng ta thấy được thách thức, chúng ta hiểu vấn đề và chúng ta đã làm, đã cải cách và bước đầu có những kết quả đáng ghi nhận nhất định. Tuy nhiên câu chuyện này còn phải tiếp tục trong trung và dài hạn, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động hết sức nhanh chóng, với nhiều xu thế mới, đòi hỏi NHNN phải thích ứng và xử lý thấu đáo, như sự phát triển vượt bậc về công nghệ, những thay đổi về chất trong cách thức sản xuất kinh doanh, giao dịch tài chính và tiền điện tử, sự nổi lên của tầng lớp trung lưu,... Đó là chưa nói tới sớm hay muộn chúng ta dần phải làm (một cách khéo léo và có lộ trình) việc mở cửa tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế và tự do hóa tài chính hơn nữa.

Quỳnh Mai

Theo Trí thức trẻ


Tài chính ngân hàng

ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
BGM CTCP Khai Thác & Chế Biến Khoáng Sản Bắc Giang 20,500
BHS Công ty TNHH MTV Đường TTC Biên Hòa - Đồng Nai 2,000
KSS CTCP Khoáng Sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận Tải & Giao Nhận Bia Sài Gòn 17,700
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi Măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 14,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
REM CTCP Tu bổ Di tích Trung ương - Vinaremon 300
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp Tác LĐ Với Nước Ngoài 3,900
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO TCT Cổ Phần Bưu Chính Viettel 59,611
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 32,500
ACC CTCP Bê Tông Becamex 20,300
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 8,450
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 8,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 8,210
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 5,800
ANV CTCP Nam Việt 13,400
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 78,700
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 11,100
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,800
BBC CTCP Bibica 87,000
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 5,600
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 39,050
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 35,200
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 27,000
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 14,500
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 35,100
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 84,700
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,100
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 12,400
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 11,700
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 38,800
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 74,700
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 37,950
C47 CTCP Xây Dựng 47 16,700
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 15,800
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 4,010
CDC CTCP Chương Dương 16,500
CIG CTCP COMA 18 1,870
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 37,600
CLC CTCP Cát Lợi 68,800
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 4,950
CLL CTCP Cảng Cát Lái 27,000
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 18,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 27,000
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 9,500
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 22,000
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 4,870
CNG CTCP CNG Việt Nam 30,400
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 60,200
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 17,850
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 210,000
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 25,350
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 36,700
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 68,500
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 9,530
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 23,050
DHA CTCP Hóa An 33,000
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 47,200
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 39,600
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 16,000
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 12,400
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 9,100
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 24,900
AME CTCP Alphanam E&C 7,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 15,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 28,900
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 9,900
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 3,100
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 42,500
ASA CTCP Liên Doanh Sana WMT 3,700
B82 CTCP 482 2,500
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 7,100
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,000
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 33,100
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 3,600
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 1,700
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 9,100
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 17,600
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 10,600
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 4,900
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 20,300
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 17,000
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 9,800
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 28,500
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 28,900
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 29,600
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 10,500
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 23,500
CKV CTCP COKYVINA 14,500
CMC CTCP Đầu Tư CMC 5,600
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 1,900
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 4,600
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 37,000
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 27,500
CT6 CTCP Công Trình 6 6,000
CTA CTCP Vinavico 900
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 30,000
CTC CTCP Gia Lai CTC 3,400
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 28,700
CVN CTCP Vinam 7,300
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 9,900
D11 CTCP Địa Ốc 11 14,000
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 19,500
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 15,700
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 29,000
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 15,200
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 1,800
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 51,300
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 1,300
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 10,000
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 3,800
HDO CTCP Hưng Đạo Container 900
HPC CTCP Chứng Khoán Hải Phòng 3,900
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 10,600
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 600
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,900
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,000
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 7,200
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 17,800
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 7,200
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 27,200
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 26,900
ADP CTCP Sơn Á Đông 29,500
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 13,300
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 61,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 6,000
BVN CTCP Bông Việt Nam 7,500
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 8,500
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 700
CFC CTCP Cafico Việt Nam 17,700
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 9,400
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 7,000
CZC CTCP Than Miền Trung 7,000
DAP CTCP Đông Á 27,500
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 3,600
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 20,100
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 15,000
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 10,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 7,500
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 13,300
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 12,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 13,600
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 14,000
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 14,600
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 8,700
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 2,700
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 15,500
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 7,800
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 600
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 37,000
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,900
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 8,900
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 15,600
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 4,900
HDM CTCP Dệt May Huế 26,500
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2018 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.