Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 0.00 0 (0%)
  • HNX-Index 0.00 0 (0%)
  • UPCOM-Index 0.00 0 (0%)
Tài chính ngân hàng
Hết cơ cấu lại thời hạn trả nợ, nợ xấu sẽ ra sao?
Đăng 29/06/2022 | 08:40 GMT+7  |   CafeF
Sau 30/6/2022, Thông tư 14/2021 sửa đổi một số điều Thông tư 01/2020 của Ngân hàng Nhà nước chính thức hết hiệu lực và gần như 100% là không có khả năng sẽ kéo dài thêm.


Thông tin do ông Nguyễn Văn Du, Quyền Chánh thanh tra, cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trao đổi, trả lời Diễn đàn Doanh nghiệp.

Gần như không có khả năng cơ quan quản lý sẽ xem xét kéo dài Thông tư 14 (ảnh: BIDV)


"Ngân hàng sẽ hạ giá và hạ giá bán tài sản thu hồi nợ"

Trả lời Diễn đàn Doanh nghiệp, ông Du cho rằng trong tình hình hiện nay, khó có khả năng Thông tư 14/2022 sẽ kéo dài thêm sau thời gian chấm dứt hiệu lực 30/6/2022.

Ngoài ra, ông cũng khẳng định rằng việc NHNN không xem xét kéo dài thời gian thực hiện Thông tư này, vì nợ xấu tuy có áp lực tăng lên, có sự quan ngại nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Đặc biệt là có nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã trích lập dự phòng vượt hơn cả lộ trình tới hết 2023 theo quy định tại Thông tư, có ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro lên tới 100% với tỷ lệ bao phủ nợ rất cao, cho thấy sự sẵn sàng của nhiều tổ chức để ứng phó với diễn biến nợ xấu khi thời hạn cơ cấu lại các khoản nợ không còn nữa.

Số liệu từ NHNN cho biết, trong 4 tháng đầu năm nay, hệ thống ngân hàng tiếp tục xử lý được 54.900 tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 4/2022 ở mức 1,58% là kết quả tích cực.

Trước đó, tại kỳ họp Quốc hội, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng báo cáo nêu rõ, dù quá trình nợ xấu 5 năm qua theo Nghị quyết 42 là rất tích cực, song việc xử lý nợ xấu cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn xuất phát từ công tác thực thi, phối hợp triển khai, hướng dẫn từ các bộ, ngành và địa phương. Đặc biệt, về tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ xấu, về việc thực hiện quyền thu giữ tài sản đảm bảo.

(Nguồn: FiinGroup và Agriseco Research tổng hợp, tính toán)


Ngoài ra, còn một số tổ chức tín dụng chưa chủ động, tích cực phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan công an, tòa án các cấp để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất khi áp dụng Nghị quyết 42.

Thống đốc cũng cho biết còn có những khách hàng không có ý thức tự giác, trốn tránh trả nợ, không bàn giao tài sản đảm bảo, chống đối, tạo ra các tranh chấp khác liên quan đến tài sản đảm bảo để khởi kiện ra tòa làm kéo dài thời gian xử lý tài sản đảm bảo.

Nghị quyết 42 theo quy định sẽ chấm dứt hiệu lực vào ngày 15/8, song đã được Quốc hội cho phép kéo dài thí điểm, áp dụng đến hết 2023, tạo điều kiện tiến đến Luật hóa xử lý nợ xấu.

> Fed tăng lãi suất "giật mình", Phó Thống đốc NHNN nói gì về lạm phát và tỷ giá?

> Xử lý nợ xấu (Bài 2): Ngân hàng gặp khó trong thực hiện Nghị quyết 42 ra sao?

Tuy vậy, việc kéo dài Nghị quyết 42 cũng không hẳn đồng nghĩa các ngân hàng đã được giữ lại “thượng phương bảo kiếm” để xử lý nợ xấu tối ưu. Ông Nguyễn Văn Du, quyền Chánh Thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN cũng cho biết thêm, mặc dù Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu đã tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng có thể xử lý nợ xấu tốt hơn trong thời gian qua, nhưng trong Nghị quyết 42 vẫn có một số biện pháp chưa phát huy hết hiệu quả. Hiện tượng các tổ chức tín dụng và sàn VAMC gặp khó khăn trong xử lý nợ xấu, theo ông Du là do quá khứ đã định giá quá cao và đây cũng là thời điểm không thuận lợi để phát mãi tài sản, bán nợ xấu dễ dàng.

Dù vậy, các ngân hàng vẫn đã và đang ráo riết rao bán, phát mãi tài sản hàng loạt để xử lý, thu hồi nợ. “Ngân hàng sẽ hạ giá, hạ giá và điều chỉnh cho đến khi giá thấp hơn, chạm đến nhu cầu người mua”, ông Du nhận định.

Nợ xấu đang gia tăng

Một chuyên gia cho rằng việc các ngân hàng ráo riết phát mãi các tài sản thế chấp bảo đảm khoản vay không có khả năng trả nợ với giá trị hàng nghìn tỷ, bên cạnh đó cũng rao bán cả những khoản nợ vay tiêu dùng vài triệu đồng; với danh sách tích cực trên thị trường mua bán nợ trong năm trước lẫn năm nay có cả nhóm Big 4 Vietcombank , BIDV, Agribank, VietinBank, tới các NHTM ở top cạnh tranh hoặc nhóm “chiếu dưới” quy mô nhỏ hơn như Sacombank, ACB, Eximbank, VIB… cho thấy dù đã trích lập dự phòng rủi ro tỷ lệ cao hoặc thậm chí dồn lại, thì nhu cầu bán nợ để giải phóng áp lực tăng vọt nợ xấu hậu 30/6/2022 với mọi tổ chức là có thật.

Ngoài ra, với lãi suất huy động đang mỗi ngày mỗi tiến về hướng thiết lập một mặt bằng mới dù NHNN đang nỗ lực giữ nguyên lãi suất điều hành, hễ nợ xấu còn tồn đọng thì nhà băng còn “chôn vốn" trong khối tài sản, giấy tờ có giá, ngân hàng càng suy giảm chất lượng tài sản.

(Nguồn: FiinGroup, Agriseco Research tổng hợp, tính toán)


Theo thống kê của Diễn đàn Doanh nghiệp, tương ứng với thị phần tín dụng, nhóm Big 4 đang nắm giữ khối tài sản, giấy tờ có giá trong đó chiếm giá trị đa phần là bất động sản dẫn đầu hệ thống. 2/4 tổ chức với tổng tài sản rất lớn, đã giữ được “nợ xấu” đẹp và tỷ lệ trích lập dự phòng cao. Cụ thể như Vietcombank tại cuối 2021 có tỷ lệ bao phủ nợ xấu nội bảng (LLR) cao kỷ lục, đạt 424% và duy trì trên mức 400% đến cuối quý I/2022. Hay BIDV đã trích đủ 100% dự phòng rủi ro cho dư nợ cơ cấu theo các Thông tư 01; 03;14 của NHNN, sớm hơn 2 năm so với yêu cầu của NHNN cũng tại cuối 2021 với LRR riêng khối NHTM thời điểm 31/12/2021 đạt 235%. BIDV thậm chí còn vượt lên Vietcombank về trích lập dự phòng rủi ro xét về giá trị trong quý I/2022.

Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng mặc dù NHNN đã yêu cầu các tổ chức kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay để hạn chế nợ xấu mới phát sinh, song tính đến hết quý I/2022, theo BCTC của nhiều ngân hàng, nợ xấu đã tăng lên.

Điển hình như ở VietinBank, tại quý I/2022, ngân hàng đã trích dự phòng mạnh tay nhưng tương ứng, nợ xấu cũng tăng mạnh. Tổng nợ xấu nội bảng của VietinBank cuối 31/3/2022 đã lên mức 15.321,5 tỷ đồng, tăng 71,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, Nợ nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn tăng 248,3% so với cùng kỳ lên mức 6.232,4 tỷ đồng; Nợ nhóm 4 - Nợ nghi ngờ tăng 29,6% là 1.993,6 tỷ đồng; Nợ nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn tăng 26,1% ghi nhận 7.095,5 tỷ đồng. Ngay cả Nợ nhóm 2 - Nợ cần chú ý của VietinBank cũng tăng 245,9% tương ứng 13.544 tỷ đồng.

Hay ở khối NHTM tư nhân, thống kê cho thấy một loạt các ngân hàng cũng đang có tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong quý I/2022 so với đầu năm. Dẫn đầu hệ thống ở cả khối quốc doanh và tư nhân, VPBank ghi nợ xấu mức 4,83% với tổng giá trị 18.094 tỷ đồng. VietBank có tỷ lệ nợ xấu cao thứ hai với 4,34%. Còn NCB có tỷ lệ nợ xấu 3,73%, tổng nợ xấu của ngân hàng tăng 21%, đứng thứ 3 từ cao xuống trong nhóm nợ xấu trên 3%.

Nhóm nợ xấu dưới 3% có tỷ lệ tăng trong kỳ so với đầu năm thì gọi tên PGBank, Vietcapital, VIB, OCB, SaigonBank, AnBinh Bank, Kienlongbank…

Và áp lực vẫn còn phía trước...

(Nguồn: FiinGroup và Agriseco Research tổng hợp, tính toán)


Hiện chưa kết thúc quý II và các ngân hàng chưa có báo cáo tài chính quý II/2022 cũng như bán niên 2022, nhưng một chuyên gia cho rằng với sự chấm dứt hiệu lực của Thông tư 14, trong khi Nghị quyết 42 được kéo dài đi kèm là vẫn sẽ có hạn chế như đã từng tồn tại, nợ xấu ngân hàng ở quý này chắc chắn sẽ tăng lên.

"Cần lưu ý rằng nợ xấu còn có thể đến từ khó khăn của khối bất động sản và các lĩnh vực, ngành có liên quan khi thị trường bất động sản đang có dấu hiệu chững thanh khoản, mặt khác thị trường trái phiếu khó huy động phát hành nợ và phát huy chức năng đảo nợ", vị chuyên gia nói.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng BIDV, áp lực nợ xấu với hệ thống khá cao và do có độ trễ, nợ xấu nội bảng được dự báo có thể lên mức 2,3-2,5% và nợ xấu gộp sẽ khoảng 6% trong năm 2022, tăng lên so với nửa đầu năm nay; thậm chí có thể còn ở mức cao hơn từ năm 2024.

Còn nhớ trong một báo cáo vào tháng 3/2022, đánh giá về ngành ngân hàng dựa trên dữ liệu tại nửa tháng 3, Fitch Ratings cho rằng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng ở Việt Nam được báo cáo thấp hơn thực tế và do các khoản dự phòng tín dụng bổ sung đối với các khoản vay có vấn đề được tính vào, nên khoảng cách vốn có thể còn rộng hơn.

Các chuyên gia Fitch Ratings ước tính hệ thống ngân hàng sẽ cần thêm vốn bổ sung lên tới 10,7 tỷ USD (2,9% GDP) để đảm bảo khoản dự phòng rủi ro cho vay bù đắp thiệt hại có thể xảy ra từ tất cả khoản vay có vấn đề, đồng thời duy trì hệ số CAR ở mức 10%.

Tuy vậy, phần lớn các tổ chức, CTCK trong nước vẫn đánh giá về triển vọng kinh doanh tích cực của các ngân hàng vào nửa cuối năm dựa trên kỳ vọng tăng trưởng tín dụng cao để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Cùng với đó, việc NHNN đang tìm cách bịt các “lỗ rò” cho vay các lĩnh vực có tính đầu cơ, rủi ro, cho vay “sân sau”... cũng được đánh giá sẽ góp phần kiểm soát, hạn chế nợ xấu mới phát sinh.

“Giải cứu” nợ xấu bất động sản

Tài chính ngân hàng

USD giảm, vàng và các tiền tệ khác lên ngôi khi nhà đầu tư lo ngại về lãi suất và triển vọng kinh tế Mỹ

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   2 giờ trước

USD giảm nhẹ trong ngày thứ Tư (7/12) trong bối cảnh các nhà đầu tư lo ngại rằng lãi suất tăng có thể đẩy nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, trong khi đồng nhân dân tệ của Trung Quốc tăng do Chính phủ nới lỏng một số quy tắc của chính sách Zero COVID.


Tăng chỉ tiêu tín dụng thêm 1,5 – 2% cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng

Tài chính ngân hàng  |   CafeF  |   2 ngày trước

Trước tình hình tác động từ bên ngoài dịu bớt, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng cải thiện hơn, hôm nay, ngày 5/12/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quyết định điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng định hướng năm 2022 thêm khoảng 1,5 - 2% cho toàn hệ thống các TCTD.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 56,700
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 7,800
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 12,200
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 36,350
ACC CTCP Bê Tông Becamex 11,200
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 12,050
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 2,200
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 10,300
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 8,250
ANV CTCP Nam Việt 25,000
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 14,400
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 8,820
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 5,600
BBC CTCP Bibica 60,500
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 6,050
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 25,550
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 40,000
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,500
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 21,400
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 57,800
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 10,650
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 18,750
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 13,600
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 30,550
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 49,050
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 19,150
C47 CTCP Xây Dựng 47 7,480
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 22,950
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 5,830
CDC CTCP Chương Dương 18,500
CIG CTCP COMA 18 3,680
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 13,900
CLC CTCP Cát Lợi 31,400
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,200
CLL CTCP Cảng Cát Lái 24,400
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 29,000
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 39,900
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 11,300
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 8,850
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 8,380
CNG CTCP CNG Việt Nam 24,000
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 28,050
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 14,850
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 33,150
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 28,000
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 11,600
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 24,100
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 4,130
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 23,500
DHA CTCP Hóa An 30,500
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 37,100
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 22,900
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 14,900
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 16,000
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 3,400
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 22,500
AME CTCP Alphanam E&C 10,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 4,000
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 12,300
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 4,700
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 11,300
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 50,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 12,600
B82 CTCP 482 700
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 11,000
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 8,600
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 9,900
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,900
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 12,800
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 2,800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 8,200
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 6,700
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 13,000
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 17,900
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 6,400
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 16,500
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 9,900
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 2,800
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 44,700
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 67,500
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 39,900
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 21,600
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 30,000
CKV CTCP COKYVINA 21,500
CMC CTCP Đầu Tư CMC 4,900
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,600
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 7,600
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 13,400
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 41,800
CT6 CTCP Công Trình 6 5,200
CTA CTCP Vinavico 1,500
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 17,600
CTC CTCP Gia Lai CTC 2,200
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 7,600
CVN CTCP Vinam 3,300
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 5,500
D11 CTCP Địa Ốc 11 11,800
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 18,400
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 18,200
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 15,700
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 11,300
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 3,800
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 19,000
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 31,700
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 17,900
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 1,900
HDO CTCP Hưng Đạo Container 800
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 1,400
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 1,800
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,200
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 3,100
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 15,400
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 6,900
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 34,500
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 37,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 16,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 16,000
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 8,200
BVN CTCP Bông Việt Nam 6,400
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 10,500
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 800
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 13,500
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 6,300
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 35,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 9,000
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 35,000
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 9,400
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 7,600
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 15,000
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 15,900
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 16,000
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 6,100
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 42,600
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 5,400
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 22,800
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 7,900
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 4,300
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 26,100
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,500
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 4,700
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 16,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 29,500
HDM CTCP Dệt May Huế 18,900
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2022 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp