Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã

Logo Vinacorp

  • VN-Index 933.70 +1.04 (+0.11%)
  • HNX-Index 110.18 +0.89 (+0.82%)
  • UPCOM-Index 54.26 +0.02 (+0.03%)
Thị trường chứng khoán Việt Nam, 10 năm nhìn lại
Đăng 04/08/2010 | 12:14 GMT+7  |  
Vậy là TTCK Việt nam đã tròn 10 tuổi! 10 năm so với lịch sử tồn tại vài ba trăm năm của TTCK thế giới thì chẳng là bao, nhưng 10 năm tuổi so với khoảng thời gian tồn tại của một đời người thì không phải là ngắn.

Đó là một khoảng thời gian đủ để một cậu bé vừa cất tiếng khóc chào đời có thể tập đi, tập chạy rồi sải những bước chân vững vàng trong chặng đường phía trước. Đó cũng là khoảng thời gian để cậu bé có thể mở mắt nhìn, nghe, cảm nhận rồi mở rộng dần tầm nhận thức về thế giới bên ngoài. Với tôi, dù TTCK Việt Nam đã 10 năm tuổi nhưng những ký ức về thị trường trong buổi đầu chập chững ấy vẫn còn khắc ghi đậm nét.

Phần 1: Những kỷ niệm khó quên thủa ban đầu

Khoảng tháng 6/1999, khi đang là Trưởng Phòng Kế hoạch phát triển, tiền thân của Ban Kế hoạch phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ngày nay, tôi được chị Phùng Thị Vân Anh, Chủ tịch HĐQT và anh Trịnh Ngọc Hồ, Tổng giám đốc BIDV gọi lên để trao đổi về khả năng tham gia ngay từ đầu và vai trò của BIDV trên TTCK Việt Nam; trao đổi về kế hoạch điều động tôi về Ban trù bị thành lập công ty chứng khoán (CTCK). Sau này tôi được biết, lý do của sự lựa chọn này là trong số gần 6.000 cán bộ nhân viên của toàn hệ thống BIDV vào thời điểm đó, tôi là một trong số ít cán bộ nghiên cứu chứng khoán từ rất sớm, ít ra là từ năm 1992.

Thú thực, lý do của việc lựa chọn lĩnh vực chứng khoán để nghiên cứu (sau này là nghề và nghiệp chứng khoán) của tôi cũng khá ngẫu nhiên. Ngày ấy, từ những năm 80, tôi đã đặt mục tiêu bảo vệ luận án Phó tiến sỹ trong chặng đường học tập của mình. Mãi đến năm 1992, tôi chính thức nộp hồ sơ đăng ký học các chứng chỉ tối thiểu tại Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. Để nắm chắc khả năng bảo vệ thành công luận án, tôi quyết định chọn lĩnh vực chứng khoán để nghiên cứu.

Thực vậy, với yêu cầu khá khắc khe của một luận án khoa học (dĩ nhiên, một luận án nghiêm túc) là phải tìm ra một các gì mới, mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn Việt Nam. Vào thời điểm đó, còn đề tài nào thích hợp hơn đề tài về chứng khoán và TTCK?

Thật không may, con đường nghiên cứu, học tập của tôi cũng không phải là con đường bằng phẳng! Trong lúc đang chuẩn bị hoàn thành các công trình nghiên cứu còn thiếu, khoảng giữa năm 1995, tôi được Khoa Sau đại học thông báo, Chính phủ sắp có chủ trương bãi bỏ hệ đào tạo Phó tiến sỹ nên các nghiên cứu sinh như tôi phải chờ có văn bản hướng dẫn mới mới được xem xét bảo vệ!

Đó quả thật là một tin buồn, khá buồn nhưng vẫn không làm tôi nản chí; tôi quyết tâm tiếp tục nghiên cứu về chứng khoán để mở rộng thêm kiến thức và chờ cơ hội bằng cách đặt mua và tìm bất cứ tài tiệu nào có liên quan đến chứng khoán để đọc. Bên cạnh đó, tôi cũng tích cực tham gia các khóa hội thảo về TTCK do các chuyên gia nước ngoài giảng dạy; khóa học nào không thể tham dự được vì điều kiện công tác thì tôi tìm và sao chụp đầy đủ tài liệu để tự nghiên cứu.

Ngày nay, đọc lại các tài liệu từ các dự án hỗ trợ kỹ thuật thành lập TTCK Việt Nam do chuyên gia nước ngoài thực hiện, theo tôi, hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia Hàn Quốc là quan trọng nhất và đáng ghi nhận nhất bởi tính khoa học, tính đầy đủ, tính thực tiễn và tính khả thi của dự án hỗ trợ kỹ thuật.

Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, cuối cùng cơ hội cũng đến với tôi. Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học Ngân hàng một số chỉ tiêu để đào tạo văn bằng Tiến sỹ theo hệ mới. Nắm bắt cơ hôi này, tôi lại tiếp tục thi vào Viện và trở thành một trong những nghiên cứu sinh đầu tiên của Viện. Và lĩnh vực chứng khoán lại vẫn là lĩnh vực tôi quan tâm theo đuổi.

Một chút vài dòng về con đường học hành nghiên cứu chứng khoán của tôi cũng chỉ cốt để nói lên một sự thật rằng, mặc dù lượng kiến thức về chứng khoán và TTCK mà tôi thu thập được qua chặng đường nghiên cứu không phải là ít, nhưng quả thực, nhiệm vụ mà Ban lãnh đạo BIDV giao cho tôi và Ban trù bị thành lập CTCK quả là hết sức nặng nề và đầy khó khăn, thách thức: (1) Làm đầu mối xây dựng đề án hoạt động, quy trình hoạt động cho Ngân hàng chỉ định thanh toán; (2) Xây dựng đề án hoạt động, quy trình nghiệp vụ cho tất cả các dịch vụ của CTCK BSC; (3) Tư vấn đăng ký, định giá và niêm yết trái phiếu BIDV trên TTCK Việt Nam.

Khó khăn thứ nhất là phần lớn các tài liệu học tập về chứng khoán được viết bằng tiếng Anh. Mà tiếng Anh trong lĩnh vực chứng khoán thì đầy rẫy các thuật ngữ chuyên môn (long, short, position,…) lẫn các từ ngữ đầy hình ảnh ẩn dụ (bull, bear, píg, chicken, whipsaw, haircut…) nên quả là thật “khó nuốt, khó tiêu hóa”. Nếu không có kiến thức chuyên ngành, nếu không có các từ điển tốt, nếu không đủ đam mê để kiên nhẫn tra cứu thì không thể nào biết tác giả muốn nói gì chứ chưa nói đến việc dịch thuật, diễn giải cho mọi người cùng hiểu.

Qua 10 năm cọ sát với thị trường, tiếng Việt trong lĩnh vực chứng khoán cũng đã có một bước tiếng rõ rệt trong việc Việt hóa những thuật ngữ tương đương của tiếng Anh nhưng cho đến nay, vẫn còn có rất nhiều thuật ngữ mà đến nay tiếng Việt chưa có khả năng lột tả hết được!

Khó khăn thứ hai là yêu cầu khắt khe của Ban lãnh đạo BIDV vào thời điểm đó: phải xây dựng tất cả các quy trình hoạt động cho CTCK, kể cả quy trình thanh toán tiền của CTCK trong mối quan hệ với Ngân hàng chỉ định.

Mọi người đều biết, xét về mặt logic, quy trình chỉ có thể xây dựng và khái quát nên từ các tình huống, các nghiệp vụ phát sinh trong các hoạt động thực tiễn. Nói một cách khác, quy trình là cái có sau, thực tiễn phải là cái đi trước. Vì vậy, xây dựng quy trình trong điều kiện chưa biết hệ thống giao dịch và thanh toán của thị trường sẽ hoạt động ra sao, dựa trên mô hình nào,…quả thực là nhiệm vụ không đơn giản chút nào!

Khó khăn thứ ba, khó khăn bao trùm nhất, vẫn là tình trạng thiếu kinh nghiệm, thiếu thực tiễn. May mắn thay, vào đầu năm 2000, anh Bùi Nguyên Hoàn, lúc bấy giờ là Vụ trưởng, Trưởng Văn phòng đại diện của SSC tại TP. HCM đã liên hệ được 3 chỉ tiêu nghiên cứu tại CTCK Phoenix (Hồng Kông) thông qua sự giới thiệu của Raymond C.P. Chiang, Giáo sư Trường Đại học Hồng Kông. Điều kiện tham dự khóa học: phải là lãnh đạo CTCK và phải giao tiếp được bằng tiếng Anh. Lúc bấy giờ, tôi, nguyên Giám đốc CTCK BSC cùng anh Đặng Giao, nguyên Giám đốc CTCK Thăng Long (đã mất) và anh Phạm Ngọc Long, nguyên Giám đốc CTCK Ngân hàng Công thương Việt Nam đã có vinh dự được cử đi tham dự khóa học này trong thời gian một tháng.

Từng đã được “cưỡi ngựa xem hoa” TTCK ở nhiều nước như Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan, và sau này ở Úc (2003), Trung Quốc (2003), Mỹ (2005), cả ba chúng tôi rất thích thú khi được tham dự khóa học này vì nó cực kỳ bổ ích! Khác với những khóa học ở nước ngoài mà chúng tôi từng tham dự, trong giờ giao dịch, chúng tôi được bố trí vào học việc với các cán bộ môi giới; kết thúc giờ giao dịch, chúng tôi được lãnh đạo Công ty giảng giải rất kỹ về mô hình tổ chức và hoạt động của CTCK, về các dịch vụ tư vấn, dịch vụ tài trợ chứng khoán…. Nhờ thâm nhập thực tế tại Phoenix, với tôi, những mảng kiến thức lý thuyết về chứng khoán và TTCK tưởng chừng như rời rạc trước đây nay đã được chắp nối và liên kết với nhau một cách chặt chẽ, sinh động. Và mọi vấn đề khúc mắc trước đây dường như đã được giải quyết một cách cơ bản!

Trở về nước từ Hồng Kông, tôi cùng các cộng sự trong Ban trù bị bắt tay vào hoàn thiện các quy trình có liên quan do Ban lãnh đạo BIDV giao. Và đến nay, BIDV vẫn là ngân hàng đầu tiên và duy nhất tham gia vào TTCK với đầy đủ ba vai trò: Ngân hàng chỉ định thanh toán đầu tiên và duy nhất thực hiện dịch vụ thanh toán các giao dịch chứng khoán; ngân hàng đầu tiên thành lập CTCK; ngân hàng đầu tiên phát hành và niêm yết trái phiếu trên TTCK Việt Nam. 

Về ngân hàng thanh toán, ngay từ đầu, cũng đã có nhiều ý kiến nghi ngờ về khả năng của BIDV trong việc thực thi vai trò này. Tuy nhiên thực tế chứng minh, 10 năm qua, BIDV đã đảm đương tốt vai trò ngân hàng thanh toán trên TTCK.

Vai trò tích cực của BIDV không chỉ dừng lại ở đấy. Trong thời kỳ đầu, do chỉ có hai mã cổ phiếu niêm yết là REE của CTCP Cơ điện lạnh và SAM của CTCP Cáp và vật liệu viễn thông, và sau này bổ sung thêm HAP của CTCP Hapaco và TMS của CTCP Kho vận giao nhận ngoại thương (04/08/2000), để tạo thêm sự phong phú cho chủng loại hàng hóa, theo sự gợi ý của lãnh đạo SSC, Ban lãnh đạo BIDV quyết định đăng ký và niêm yết trái phiếu BIDV có kỳ hạn 5 năm trên thị trường.

Khi nhận nhiệm vụ tư vấn cho BIDV thực hiện niêm yết trái phiếu, khó khăn mà BSC gặp phải không nằm ở thủ tục niêm yết mà nằm ở kỹ thuật định giá trái phiếu. Thực vậy, trái phiếu BID1_100 mà BIDV niêm yết thời điểm đó là loại trái phiếu lai tạp giữa trái phiếu chiết khấu (discount bond) và trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating - rate bond). Với các đặc tính riêng có ở Việt Nam như vậy, việc định giá chúng hoàn toàn không dễ dàng vì trái phiếu có các thuộc tính như vậy không hề có công thức trong các giáo trình tài chính hiện đại, kể cả trong giáo trình đầu tư, tài chính công ty hiện đại của nước ngoài, các giáo trình đào tạo MBA chuyên ngành tài chính của Mỹ. May sao, bài toán định giá trái phiếu lai tạp này đã được giải quyết một cách khá thuyết phục bằng mô hình chiết khấu hai lần do chính tôi tìm được và vận dụng từ các tài liệu giảng dạy của các giáo sư Hàn Quốc. Công thức định giá được SSC chấp thuận và BIDV đã xác lập được kỷ lục là ngân hàng đầu tiên niêm yết trái phiếu trên TTCK Việt Nam.

BIDV cũng là ngân hàng đầu tiên thành lập CTCK. Ngày nay, mọi người đều biết CTCK Bảo Việt (BVSC) được xem là CTCK đầu tiên của Việt Nam, nhưng có một thực tế ít ai biết rằng, vào thời điểm đó, việc chuẩn bị thành lập BSC cũng được chuẩn bị rất bài bản, gấp rút. Hồ sơ thành lập BSC cũng đã sớm được đệ trình cho SSC nhưng vì một số lý do, BSC nhận giấy phép số hai! 

Ngày nay, khi quy mô giao dịch của TTCK Việt Nam đã có mức tăng trưởng vượt bậc, với gần 600 cổ phiếu niêm yết, hơn 100 CTCK, thật khó có thể hình dung TTCK Việt Nam ngày nay lại bắt đầu từ một mô hình thử nghiệm hết sức giản đơn đến khó tin: 1+1+2+2 (1 Trung tâm GDCK kiêm cả chức năng đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán (HSTC), 1 ngân hàng thanh toán (BIDV), 2 cổ phiếu (REE và SAM), 2 CTCK (BVSC và BSC). 

Thế nhưng thật thú vị, trái ngược với không khí trầm lắng của thị trường trái phiếu, ngay từ phiên giao dịch đầu tiên diễn ra vào ngày 28/07/2000, thị trường cổ phiếu đã là tiêu điểm thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng đầu tư. Mặc dù cho đến thời điểm khai trương chỉ có một số lượng nhỏ của 2 loại cổ phiếu niêm yết là SAM và REE nhưng tại các sàn giao dịch của 2 CTCK, lệnh đặt mua cổ phiếu REE và SAM vẫn liên tục được nhập vào hệ thống giao dịch. Với tổng khối lượng đặt mua cho 2 loại cổ phiếu này là 355.000 cổ phiếu trong khi số lượng chòa bán chỉ giới hạn ở con số 4.200 cổ phiếu, phiên giao dịch đầu tiên đã diễn ra suôn sẻ nhưng kết thúc với tổng giá trị giao dịch quá khiêm tốn: 70,4 triệu đồng.

Trong bối cảnh nguồn cung chứng khoán quá khan hiếm, và có lẽ còn do ảnh hưởng của tin đồn rằng giá chứng khoán sẽ lên gấp 10 lần và hàng nghìn người đã xếp hàng tại sân vận động để chờ mua cổ phiếu như TTCK Trung Quốc dạo mới khai trương, trong những ngày đầu thị trường mở cửa, rất nhiều nhà đầu tư đã đến sàn giao dịch của BSC từ trước 5 giờ sáng để chờ đặt lệnh mặc dù giờ giao dịch chính thức của BSC là 7g30 phút. Đến chờ trước 5 giờ sáng nhưng không mua được, nhiều nhà đầu tư đã đẩy giờ chờ đợi lên sớm hơn nữa và tự làm “giám sát viên” cho BSC để xác nhận ai là người thực sự đến trước. Kỷ lục được ghi nhận tại sàn giao dịch của BSC về sự kiên trì chờ đợi của nhà đầu tư là 2 giờ sáng trong những ngày có phiên giao dịch.

Trong thực tế, do sản phẩm của TTCK thời đó quá ít, cái gọi là “thị phần môi giới” của CTCK này so với CTCK khác là tốc độ gõ lệnh của các đại diện giao dịch tại sàn. Mặt khác, thị phần cao của các CTCK trong một chừng mực nào đó cũng phản ánh chính sách ưu tiên của công ty cho những nhà đầu tư lớn (cá nhà đầu tư đặt lệnh lô lớn 9.900 cổ phiếu, theo quy định trước đây). Kết cục là thị trường mất dần đi tính khách quan, công bằng, tính đại chúng, gây bất bình cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Để tranh các tranh chấp không cần thiết và cũng để tránh tình trạng xếp hàng chờ đợi, BSC đã tổ chức bốc thăm để xác định thứ tự ưu tiên lệnh được nhập vào hệ thống. Và đó cũng là nguồn gốc sản sinh phần mềm xổ số điện toán để xác định trật tự ưu tiên cho các nhà đầu tư tại BSC.



EMC CTCP Ô tô Giải Phóng 13,400
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
SDI CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sài Đồng 83,800
TTB Công ty Cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ 10,800
HVA Công ty Cổ phần Nông nghiệp xanh Hưng Việt 2,800
HKB Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc 2,200
NHP Công ty CP Xuất nhập khẩu NHP 2,300
FID Công ty đầu tư tài chính FID 1,600
CTT CTCP Du lịch Cần Thơ 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
AHLH Khách sạn Asean Hạ Long 10,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
ALPME CTCP Alphanam Cơ điện 22,200
AGRTT CTCP Du lịch Thương mại Nông nghiệp Việt Nam 10,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTXC CTCP Vận tải Đa phương thức (VIETRANSTIMEX) 10,000
VTPO Tổng CTCP Đầu Tư Quốc Tế Viettel 55,894
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGREXIM CTCP Nông sản Agrexim 15,200
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
DBHP CTCP Thủy điện Định Bình 35,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
XD5HN CTCP Xây dựng số 5 Hà Nội 9,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 16,700
AGRISECO CTCP Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 27,000
ACBGF Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB 13,000
ACC244 Công ty Cổ phần ACC - 244 8,500
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
AGRINCO Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Kỹ thuật Cơ điện 37,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,800
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
VTTC CTCP Du lịch và Thương mại Vinacomin 34,100
WACO CTCP Nước và Môi trường 12,000
WSTN CTCP Cấp thoát Nước Trà Nóc 10,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
PVIFINANCE CTCP Đầu tư Tài Chính Bảo hiểm Dầu khí 3,000,000
VTFI CTCP Thương mại và Đầu tư VINATABA 10,000
HUD2 CTCP Đầu tư Phát triển Nhà HUD2 20,000
VTIE CTCP Xuất nhập khẩu Việt Trang 5,000
YBMS CTCP Khoáng sản Yên Bái 10,000
BEPHARCO CTCP Dược phẩm Bến Tre 15,000
ALTC Công ty Cổ phần Âu Lạc - ASC 12,000
BITAHACO CTCP Dịch vụ Sản xuất XNK Bình Tây 15,500
BIMICO CTCP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương 75,000
AGJC Tổng Công ty Cổ phần Vàng Agribank Việt Nam - AJC 20,750
ALCII CTCP Cho thuê Tài chính II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 15,300
VRG Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 5,800
TOP CTCP Phân phối Top One 1,600
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 10,500
ABT Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX BENTRE ) 28,700
ACC Công ty cổ phần Bê tông Becamex (BECAMEX ACC) 22,400
AGF Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH Co. ) 9,090
AGM Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) 9,000
AGR Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agriseco) 5,390
ANV Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) 9,750
APC Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú (API.Co.) 69,900
ASM Công ty Cổ phần Tập đoàn Sao Mai (SAOMAI GROUP) 10,550
ASP Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha (AN PHA S.G PETROL JSC) 6,160
BCI Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI) 32,900
BGM Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (BAC GIANG EXPLOITABLE.,JSC) 860
BHS Công ty Cổ phần Đường Biên Hoà (BSJC) 22,000
BIC Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 32,000
BID Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 25,300
BMC Công ty cổ phần Khoáng sản Bình Định (BIMICO ) 16,000
BMI Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (Bao Minh) 33,200
BMP Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh (BMPLASCO ) 92,000
BRC Công ty Cổ phần Cao su Bến Thành (BERUB JSC) 10,250
BTP Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa 10,500
BTT Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành (BEN THANH TSC) 36,800
BVH Tập đoàn Bảo Việt (TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT) 57,200
C32 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng 3-2 (CIC3-2) 36,550
C47 Công ty Cổ phần Xây dựng 47 (CC47) 14,700
CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi (CIDICO) 15,500
CCL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long (PVCL) 3,800
CDC Công ty Cổ phần Chương Dương (Chương Dương ACIC) 16,900
CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh (CII ) 32,200
CLC Công ty Cổ phần Cát Lợi (CLC. ) 65,500
CLG Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC (COTECLAND JSC) 5,460
CLL Công ty cổ phần Cảng Cát Lái (Cat Lai Port JSC) 26,400
CLW Công ty Cổ phần Cấp nước Chợ Lớn (CHOLON WASUCO JSC) 19,000
CMG Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC (CMC Corp) 25,750
CMT Công ty Cổ phần Công nghệ Mạng và Truyền thông (INFONET.,JSC) 11,000
CMX Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cà Mau (CAMIMEX CORPORATION) 4,410
CNG Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG VietNam) 27,600
CSM Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) 14,700
CTD Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (COTECCONS) 234,000
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) 23,700
CTI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (CTC) 27,700
CYC Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih (Chang Yih ) 2,000
D2D Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (D2D) 62,600
DAG Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á (Tập đoàn Đông Á) 9,200
DCL Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long (PHARIMEXCO) 21,700
DHA Công ty Cổ phần Hóa An (DHA ) 33,450
DHC Công ty Cổ phần Đông Hải Bến Tre (DOHACO) 36,800
DHG Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 104,000
DHM Công ty cổ phần Thương mại và Khai thác Khoáng sản Dương Hiếu (DH JSC) 3,650
DIC Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC (DIC- INTRACO ) 6,160
DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC CORP) 17,250
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 34,000
ADC Công ty Cổ phần Mĩ thuật và Truyền thông (AD&C., JSC) 16,000
ALT Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (ALTA ) 14,600
ALV Công ty Cổ phần Khoáng sản Vinas A Lưới (VAM) 16,000
AMC Công ty cổ phần Khoáng sản Á Châu 24,100
AME Công ty Cổ phần Alphanam E&C (ALPHANAM M&E JSC) 4,300
AMV CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt Mỹ (AMVIBIOTECH INC.) 15,600
API Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương (APEC Investment.,SJC) 30,000
APP Công ty Cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) 9,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
APS Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 3,000
ARM Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không (AIRIMEX., JSC) 23,500
ASA Công ty cổ phần Liên doanh SANA WMT 2,400
B82 Công ty Cổ phần 482 (JSC 482) 2,300
BBS Công ty cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn (BBS) 12,000
BCC Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC) 7,000
BDB Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Bình Định (BiDiBook) 10,000
BED Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng (DanangBook) 32,000
BHT Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC (BACH DANG TMC., JSC) 4,400
BII Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (Bidico) 2,000
BKC Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn (BAMCORP.) 7,800
BLF Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BACLIEUFIS.,JSC) 4,500
BPC Công ty cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn (BPC ) 18,500
BSC Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (BTSC) 14,400
BST Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận (BISATHICO) 13,100
BTH Công ty Cổ phần Chế tạo Biến thế và Vật liệu điện Hà Nội (CTBT HN., JSC) 10,000
BTS Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn (VICEMBUTSON) 5,400
BVS Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) 19,200
BXH Công ty cổ phần VICEM Bao bì Hải Phòng (HPVC) 15,500
C92 Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư 492 (C92) 7,100
CAN Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HaLong Canfoco ) 25,000
CAP Công ty Cổ phần Lâm Nông sản Thực phẩm Yên Bái (YFACO) 37,900
CCM Công ty Cổ phần Khoáng sản & Xi măng Cần Thơ (CANTXIMEX) 33,900
CJC Công ty Cổ phần Cơ điện Miền Trung (CEMC) 23,500
CKV Công ty Cổ phần COKYVINA (COKYVINA) 17,400
CMC Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (CMCI JSC) 6,300
CMI Công ty cổ phần CMISTONE Việt Nam (CAVICO MINERALS.,JSC) 2,000
CMS Công ty cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam (CMVietnam.,JSC) 4,500
CPC Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ (CPC) 38,900
CSC Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Nam (COTANA., JSC) 31,800
CT6 Công ty Cổ phần Công trình 6 (JSCONO6) 6,000
CTA Công ty Cổ phần Vinavico 1,300
CTB Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương (HPMC) 31,000
CTC Công ty cổ phần Gia Lai CTC (Gia Lai CTC) 3,500
CTM Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Khai thác mỏ Vinavico (VINAVICO INCOM ., JSC) 1,400
CTS Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc) 10,050
CTX Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam (CONSTREXIM HOLDINGS.JSC) 23,000
CVN Công ty cổ phần Vinam (VINAM., JSC ) 6,800
CVT Công ty Cổ phần CMC (CMC J.S.C) 51,700
CX8 Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Constrexim số 8 (CONSTREXIM NO 8) 9,000
PVA Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVNC) 500
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 29,400
ACE Công ty Cổ phần Bê tông ly tâm An Giang 25,500
ADP Công ty Cổ phần Sơn Á Đông 30,700
BMJ Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex (BECAMEX BMC) 11,800
BTC Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu (BTC ) 58,800
BTG Công ty Cổ phần Bao bì Tiền Giang (TIGIPACK) 6,000
BTW Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Thành (BENTHANH WASUCO JSC) 23,300
BVN Công ty cổ phần Bông Việt Nam (VCC) 8,500
BWA Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Xây dựng Bảo Lộc (BWA) 8,800
CAD Công ty Cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX (CADOVIMEX – VIET NAM) 900
CFC Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam (CAFICO VIETNAM ) 19,900
CI5 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 (CIC-5 JSC) 10,600
CT3 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công trình 3 (CT3) 9,000
CZC CTCP Than Miền Trung - Vinacomin 7,000
D26 Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 (ROMACO 26) 10,500
DAP Công ty Cổ phần Đông Á (Dopack) 28,300
DBF Công ty Cổ phần Lương thực Đông Bắc 9,900
DBM Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Đăk Lăk (BAMEPHARM) 32,700
DDN Công ty Cổ phần Dược - Thiết bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) 15,600
DGT Công ty cổ phần Công trình Giao thông Đồng Nai (DOTRANCO) 10,700
DLD Công ty Cổ phần Du lịch Đắc Lắk (Daklaktourist) 7,200
DNL Công ty cổ phần Logistic Cảng Đà Nẵng (DANALOG) 14,000
DNS Công ty Cổ phần Thép Đà Nẵng (DSC) 12,000
DPP Công ty Cổ phần Dược Đồng Nai (DONAIPHARM) 12,900
DTC Công ty Cổ phần Viglacera Đông Triều (VIDOCO) 14,600
DTV Công ty Cổ phần Phát triển điện Nông thôn Trà Vinh 11,000
DVH Công ty cổ phần Chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari (VIHEM .,JSC) 8,700
DXL Công ty Cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (TOCOLIMEX) 2,300
FBA Công ty Cổ phần Tập đoàn Quốc tế FBA (FBA GROUP., CORP) 900
GDW Công ty Cổ phần Cấp nước Gia Định (GIA DINH WASUCO JSC) 15,800
GER Công ty Cổ phần Thể thao Ngôi sao Geru (GERU STAR SPORT CO.) 5,100
GGG Công ty cổ phần Ô tô Giải Phóng (GMC JSC ) 700
GHC Công ty Cổ phần Thủy điện Gia Lai (GHC) 35,500
GTH Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Thừa Thiên Huế (HCTC) 4,500
H11 CTCP Xây dựng HUD101 (HUD101) 5,000
HBD Công ty Cổ phần Bao bì PP Bình Dương (HaiPac Bình Dương ) 15,100
HCI Công ty Cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội (Hancic) 6,400
HDM Công ty Cổ phần Dệt - May Huế (HUEGATEX) 24,000
HFC Công ty Cổ phần Xăng dầu Chất đốt Hà Nội 10,000
HFX Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Thanh Hà (HAFOREXIM) 1,400
HIG Công ty Cổ phần Tập đoàn HIPT (HIPT GROUP) 6,100
HPB Công ty Cổ phần Bao bì PP (HAIPAC) 12,000
HPP Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng (HPP) 43,000
HPT Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Tin học HPT (HPT) 8,300
ICI Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Công nghiệp (ICIC) 9,000
IHK Công ty Cổ phần In Hàng không (AVIPRINT.,JSC) 15,700
IME Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp Công nghiệp (IMECO JSC) 8,600
IN4 Công ty Cổ phần In số 4 (IN4 JSC) 65,000
KBE Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Trường học Kiên Giang (KienGiang B.E.J.Co) 19,000
Xem thêm...
fptcapital.com.vn
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
© Copyright 2008-2017 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam CorpGhi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.