Bạn chưa có cổ phiếu theo dõi nào! Nhấn [+] để thêm.
Thêm mã
  • VN-Index 1.00 -3.40 (-0.29%)
  • HNX-Index 275.93 -1.25 (-0.45%)
  • UPCOM-Index 87.10 +0.41 (+0.47%)
IPO - Cổ phần hóa
Vì sao cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước hụt hơi?
Đăng 24/05/2022 | 13:38 GMT+7  |   VietStock
Manh nha từ năm 1990, đến nay, tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không những rơi vào trì trệ mà còn lùi xa so với giai đoạn xuất phát. Chẳng những không đủ về lượng theo mục tiêu đã đề ra, nhiều chuyên gia, nhà quản lý còn nhận định cổ phần hoá thời gian qua không đảm bảo về “chất”...

Vì sao cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước hụt hơi?

Manh nha từ năm 1990, đến nay, tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không những rơi vào trì trệ mà còn lùi xa so với giai đoạn xuất phát. Chẳng những không đủ về lượng theo mục tiêu đã đề ra, nhiều chuyên gia, nhà quản lý còn nhận định cổ phần hoá thời gian qua không đảm bảo về “chất”...

Vì sao cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước hụt hơi?

Theo báo cáo “Cải cách, nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Ciem) công bố, quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước sau khi đạt tới đỉnh điểm năm 2004-2005 thì bắt đầu chậm dần.

Giai đoạn 2008 – 2011, kinh tế trong nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, cộng với những yếu kém nội tại của nền kinh tế nên cổ phần hoá giảm tốc. Cùng với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cũng được đẩy mạnh hơn trong giai đoạn 2012-2015.

Tuy nhiên, đến giai đoạn 2016-2021, nền tảng vĩ mô ngày càng được củng cố, kinh tế lấy lại đà tăng trưởng song quá trình cổ phần hoá và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước ngày càng “hụt hơi”. Thậm chí, năm 2021, theo báo cáo của Bộ Tài chính, chỉ có 4 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá.

Điểm nghẽn từ đất đai và xác định giá trị doanh nghiệp

Tại hội thảo “Giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp” vừa được tổ chức ở Hà Nội, hàng chục đại biểu đến từ các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đều nhận định lực cản lớn nhất của quá trình cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước trong giai đoạn 2016 – 2021 chính là đất đai và định giá doanh nghiệp.

Hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hoá trong danh mục của Chính phủ là doanh nghiệp lớn có quy mô vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng, sở hữu nhiều đất đai. Trong khi đó, vài năm trở lại đây, Nhà nước đang tiến hành siết chặt kỷ cương trong quản lý kinh tế, nhiều cán bộ lợi dụng cổ phần hoá để chiếm đoạt tài sản nhà nước bị pháp luật xử lý. Vì vậy, những người quản lý và đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước thường có tâm lý thận trọng hơn trong cổ phần hoá để đảm bảo an toàn.

Nhìn lại chặng đường cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp hàng chục năm qua, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nhận xét: “Đáng chú ý là sự thất thoát tài sản công, ví dụ như đất đai trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không chỉ bị định giá thấp, mà còn qua việc chuyển sở hữu, “tư nhân hoá ngầm” đất công thông qua việc chuyển từ hợp đồng hợp tác kinh doanh, theo tỷ lệ góp vốn và phân chia lãi lỗ, thành chuyển nhượng luôn khu đất sang tay tư nhân theo “quy trình tắt”, không công khai và không qua đấu giá”.

Theo ông, đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa quy định cụ thể về phương pháp xác định giá đất bảo đảm minh bạch, sát giá thị trường.

Do đó, việc xác định giá đất để thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chủ yếu dựa vào kết quả của doanh nghiệp tư vấn nhưng không đầy đủ và chưa sát với giá thị trường. Xác định giá đất làm căn cứ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại một số địa phương chưa thực hiện đầy đủ trình tự, thủ  tục theo quy định. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt giá đất làm căn cứ thu tiền sử dụng đất nhưng chưa xin ý kiến thường trực Hội đồng nhân dân và không báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố tại kỳ họp gần nhất.

Trên thực tế, sau khi nhiều sai phạm đất đai trong cổ phần hoá, thoái vốn được pháp luật xử lý, đến nay, nhiều đơn vị né việc này.

Theo Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính, đa số các doanh nghiệp nhà nước chưa chủ động triển khai các chính sách pháp luật về đất đai, đến khi phải thực hiện cổ phần hoá mới bắt đầu thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà đất, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ cổ phần hoá. Sự phối hợp giữa các cơ quan đại diện chủ sở hữu với các uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, bộ, ngành liên quan trong việc thực hiện lập, phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất còn chưa tốt, tiến độ phê duyệt còn rất chậm, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM.

Sau đất đai, định giá doanh nghiệp cũng là một vấn đề cản trở tiến trình cổ phần hoá thời gian qua.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Độ, Học viện Tài chính, cho rằng về lý thuyết cũng như trên thực tế, rất khó để xác định giá trị của doanh nghiệp một cách chính xác, bởi các yếu tố làm cơ sở cho việc định giá như lãi suất, triển vọng kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp… luôn biến động theo thời gian và phải ước tính, dự báo. Hơn nữa, giá bán vốn cổ phần của Nhà nước còn phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.

Theo TS. Độ, chính vì khó xác định chính xác giá trị doanh nghiệp cũng như giá bán vốn của Nhà nước, các cấp quản lý luôn thận trọng trong việc phê duyệt các phương án cổ phần hoá, do lo ngại sẽ phải chịu trách nhiệm nếu kết quả cổ phần hoá bị coi là không thành công như kỳ vọng. “Nỗi lo trách nhiệm càng được nhân lên khi các cơ sở pháp lý, cơ chế chính sách liên quan đến cổ phần hoá còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Điển hình là các cơ chế chính sách trong việc định giá các tài sản như đất đai, thương hiệu”, chuyên gia đến từ Học viện Tài chính nói.

Ngại cổ phần hóa vì minh bạch?

Ngoài hai chướng ngại vật lớn nhất là đất đai và định giá, theo các chuyên gia, doanh nghiệp nhà nước hiện nay không có nhiều động lực để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá. Bởi lẽ, họ vẫn đang hoạt động có lãi nhờ được độc quyền trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế; nhờ các lợi thế về đất đai, tài nguyên… cũng như đơn đặt hàng của Nhà nước.

Khi cổ phần hoá, doanh nghiệp nhà nước buộc phải tuân thủ các yêu cầu về công bố thông tin, công khai minh bạch chặt chẽ hơn. Như vậy, nhiều yếu kém của doanh nghiệp có thể bị lộ diện và chịu sự giám sát gắt gao hơn của dư luận. Điều này cũng làm giảm động lực cổ phần hoá của các doanh nghiệp nhà nước.

Ở góc độ cá nhân, cổ phần hoá sẽ khiến quyền lực của lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước bị giảm khi có sự tham gia và kiểm soát của các cổ đông ngoài nhà nước: “Cổ phần hoá có thể khiến một số lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước bị thiệt hại về lợi ích kinh  tế, vì mặc dù thu nhập chính thức không cao, nhưng lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước có thể thu lợi thông qua việc chuyển đơn hàng, lợi nhuận sang các công ty sân sau”, TS. Nguyễn Đức Độ nói về sự mờ ám trong làm ăn, khiến cổ phần hoá bị tắc.

Cùng đó, ông Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, còn chỉ ra công tác cổ phần hoá, thoái vốn thời gian qua chưa đảm bảo về chất. Câu chuyện hiệu quả hoạt động doanh nghiệp hậu cổ phần hoá chưa được quan tâm đúng mức.

Mục tiêu của cổ phần hoá là khiến cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, cạnh tranh hơn. Lý tưởng thì sau khi cổ phần hoá, công ty phải tạo thêm được công ăn việc làm, sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao hơn với giá thấp hơn cho người tiêu dùng trong nước.

Song, theo Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp, một số doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá thì tỉ lệ vốn Nhà nước nắm giữ còn cao nên hoạt động sau cổ phần hoá chưa có thay đổi nhiều về quản trị điều hành cũng như hiệu quả hoạt động. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thụt lùi sau khi cổ phần hoá, điển hình như Tổng Công ty cổ phần lương thực miền Nam, Tổng Công ty cổ phần xây dựng sông Hồng…

Cũng theo đại diện Bộ Kế hoạch & Đầu tư, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hoá không tiếp tục duy trì việc làm cho lực lượng lao động đã được đào tạo. Có thực trạng, nhà đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước chỉ nhằm mục đích chính là bất động sản và những khu đất vàng của doanh nghiệp hơn là nhằm vào thương hiệu hoặc ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp. Khi đã nắm được doanh nghiệp thì tìm cách chuyển nhượng đất, chuyển mục đích sử dụng đất để kinh doanh kiếm lời, không tập trung vào đầu tư phát triển doanh nghiệp theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính. 

Song song với đó, tình trạng doanh nghiệp chây ì đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán hậu cổ phần hoá còn phổ biến. Nhiều doanh nghiệp nhà nước còn công bố thông tin theo kiểu chống chế, tạo rào cản cho toàn xã hội giám sát hoạt động của các doanh nghiệp này

Phan Linh

VnEconomy


IPO - Cổ phần hóa

Vì sao cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước hụt hơi?

IPO - Cổ phần hóa  |   VietStock  |   24/05/2022

Manh nha từ năm 1990, đến nay, tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không những rơi vào trì trệ mà còn lùi xa so với giai đoạn xuất phát. Chẳng những không đủ về lượng theo mục tiêu đã đề ra, nhiều chuyên gia, nhà quản lý còn nhận định cổ phần hoá thời gian qua không đảm bảo về “chất”...

VinFast nộp dự thảo hồ sơ IPO lên UBCK Mỹ

IPO - Cổ phần hóa  |   VietStock  |   07/04/2022

Ngày 7/4, công ty VinFast Trading & Investment Pte. Ltd., một công ty con được thành lập tại Singapore của Tập đoàn Vingroup – Công ty CP, công bố đã nộp dự thảo hồ sơ niêm yết sơ bộ theo mẫu F-1 lên UBCK Hoa Kỳ (“SEC”) liên quan đến việc đề xuất chào bán cổ phiếu phổ thông ra công chúng.

vietjet
ALP CTCP Đầu Tư Alphanam 2,200
ASIAGF Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng ACB 10,800
KSS CTCP Khoáng sản Na Rì Hamico 800
NHS CTCP Đường Ninh Hòa 30,000
NHW CTCP Ngô Han 10,800
NVN CTCP Nhà Việt Nam 31,000
SBC CTCP Vận tải và Giao nhận Bia Sài Gòn 15,000
SEC CTCP Mía Đường - Nhiệt Điện Gia Lai 12,400
TIC CTCP Đầu Tư Điện Tây Nguyên 11,500
VTF CTCP Thức Ăn Chăn Nuôi Việt Thắng 33,000
CTM CTCP ĐT Xây Dựng & Khai Thác Mỏ Vinavico 1,400
HPS CTCP Đá Xây Dựng Hòa Phát 7,000
MAX CTCP Khai Khoáng & Cơ Khí Hữu Nghị Vĩnh Sinh 2,900
NLC CTCP Thủy Điện Nà Lơi 27,400
SKS CTCP Công Trình Giao Thông Sông Đà 9,800
SNG CTCP Sông Đà 10.1 19,500
TSM CTCP Xi măng Tiên Sơn Hà Tây 2,500
D26 CTCP Quản lý và Xây dựng Đường bộ 26 8,300
DBF CTCP Lương Thực Đông Bắc 9,900
DLC Công ty cổ phần Du lịch Cần Thơ (CANTHO TOURIST J.S CO ) 38,800
DNF Công ty Cổ phần Lương thực Đà Nẵng (Danafood) 2,200
JSC CTCP ĐT & XD Cầu Đường Hà Nội 2,500
NBS CTCP Thép Nhà Bè 40,000
DNT Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Nai (Donatours) 24,000
HPL Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ 6,600
VCV CTCP Vận Tải Vinaconex 1,800
HHL CTCP Hồng Hà Long An 900
HTB CTCP Xây Dựng Huy Thắng 21,300
ILC CTCP Hợp tác Lao động với nước ngoài 7,800
NSN CTCP Xây Dựng 565 2,500
NVC CTCP Nam Vang 1,000
CLP CTCP Thủy Sản Cửu Long 3,400
MAFPF1 Quỹ Đầu Tư Tăng Trưởng Manulife 10,100
VFMVF4 Quỹ Đầu Tư Doanh Nghiệp Hàng Đầu Việt Nam 7,500
BAM CTCP Khoáng Sản và Luyện Kim Bắc Á 1,800
E1SSHN30 Chứng chỉ quỹ ETF SSIAM-HNX30 10,000
AMVI CTCP Sản xuất Kinh doanh Dược và Trang thiết bị Y tế Việt - Mỹ 18,000
AIRSERCO CTCP Cung ứng Dịch vụ Hàng không 14,000
XDDT24 CTCP Đầu tư và Xây dựng 24 14,000
WASECO CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát nước 17,000
VTRC CTCP Kho vận và Dịch vụ Thương mại 20,000
AGRC CTCP Địa ốc An Giang 11,000
HANOIPHAR CTCP Dược phẩm Hà Nội 20,000
VVTC CTCP Việt Trì Viglacera 13,000
VTGA CTCP May xuất khẩu Việt Thái 17,300
ACBGF Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB 13,000
ACC245 Công ty cổ phần ACC245 9,000
CTCM CTCP Xi măng Công Thanh 2,000
TCB2006 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank 32,500
WACO CTCP Nước và Môi trường 22,000
AAM CTCP Thủy Sản MeKong 12,050
ABT CTCP XNK Thủy Sản Bến Tre 39,800
ACC CTCP Bê Tông Becamex 13,400
ACL CTCP XNK Thủy sản Cửu Long An Giang 23,700
AGF CTCP XNK Thủy Sản An Giang 3,000
AGM CTCP Xuất Nhập Khẩu An Giang 26,000
AGR CTCP CK NH Nông Nghiệp & PT Nông Thôn Việt Nam 9,540
ANV CTCP Nam Việt 57,000
APC CTCP Chiếu Xạ An Phú 18,450
ASM CTCP Tập Đoàn Sao Mai 15,200
ASP CTCP Tập Đoàn Dầu Khí An Pha 6,460
BBC CTCP Bibica 107,900
BCE CTCP XD & Giao Thông Bình Dương 8,520
BCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh 41,900
BIC TCT Cổ Phần Bảo Hiểm NH Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 27,200
BID Ngân Hàng TMCP Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam 31,200
BMC CTCP Khoáng Sản Bình Định 12,900
BMI TCT Cổ Phần Bảo Minh 29,500
BMP CTCP Nhựa Bình Minh 54,000
BRC CTCP Cao Su Bến Thành 13,250
BSI CTCP CK Ngân Hàng ĐT & PT Việt Nam 21,600
BTP CTCP Nhiệt Điện Bà Rịa 16,950
BTT CTCP Thương Mại DV Bến Thành 49,000
BVH Tập Đoàn Bảo Việt 54,800
C32 CTCP Đầu tư Xây dựng 3-2 25,200
C47 CTCP Xây Dựng 47 12,300
CCI CTCP ĐT Phát Triển CN - TM Củ Chi 30,150
CCL CTCP Đầu Tư & Phát Triển Đô Thị Dầu Khí Cửu Long 9,710
CDC CTCP Chương Dương 17,250
CIG CTCP COMA 18 5,450
CII CTCP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh 16,850
CLC CTCP Cát Lợi 35,000
CLG CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC 1,200
CLL CTCP Cảng Cát Lái 27,900
CLW CTCP Cấp Nước Chợ Lớn 35,500
CMG CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC 58,000
CMT CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông 17,000
CMV CTCP Thương Nghiệp Cà Mau 13,400
CMX CTCP Chế Biến Thủy Sản & XNK Cà Mau 17,200
CNG CTCP CNG Việt Nam 37,000
COM CTCP Vật Tư Xăng Dầu 52,100
CSM CTCP CN Cao Su Miền Nam 18,100
CTD CTCP Xây Dựng Coteccons 52,000
CTG Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam 24,750
CTI CTCP ĐT PT Cường Thuận IDICO 13,000
D2D CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp số 2 43,200
DAG CTCP Tập Đoàn Nhựa Đông Á 5,300
DCL CTCP Dược Phẩm Cửu Long 24,800
DHA CTCP Hóa An 35,800
DHC CTCP Đông Hải Bến Tre 65,500
ACB Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu 23,800
ADC CTCP Mỹ Thuật Và Truyền Thông 20,000
ALT CTCP Văn Hóa Tân Bình 26,300
ALV CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng ALV 5,300
AMC CTCP Khoáng Sản Á Châu 26,400
AME CTCP Alphanam E&C 10,700
AMV CTCP SXKD Dược & TTB Y Tế Việt Mỹ 8,200
API CTCP ĐT Châu Á - Thái Bình Dương 32,500
APP CTCP Phát Triển Phụ Gia & Sản Phẩm Dầu Mỏ 8,400
APS CTCP CK Châu Á Thái Bình Dương 13,200
ARM CTCP Xuất Nhập Khẩu Hàng Không 45,000
ASA CTCP Hàng tiêu dùng ASA 12,500
B82 CTCP 482 1,100
BBS CTCP VICEM Bao Bì Bút Sơn 12,500
BCC CTCP Xi Măng Bỉm Sơn 14,200
BDB CTCP Sách & Thiết Bị Bình Định 10,500
BED CTCP Sách & Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng 39,700
BHT CTCP Đầu Tư Xây Dựng Bạch Đằng TMC 11,500
BII CTCP Đầu Tư & Phát Triển Công Nghiệp Bảo Thư 3,800
BKC CTCP Khoáng Sản Bắc Kạn 7,200
BPC CTCP Vicem Bao Bì Bỉm Sơn 11,000
BSC CTCP Dịch Vụ Bến Thành 14,400
BST CTCP Sách - Thiết Bị Bình Thuận 18,000
BTS CTCP Xi Măng Vicem Bút Sơn 7,500
BVS CTCP Chứng Khoán Bảo Việt 18,100
BXH CTCP Vicem Bao Bì Hải Phòng 13,500
C92 CTCP Xây Dựng & Đầu Tư 492 4,100
CAN CTCP Đồ Hộp Hạ Long 65,800
CAP CTCP Lâm Nông Sản Thực Phẩm Yên Bái 69,000
CCM CTCP Khoáng Sản & Xi Măng Cần Thơ 56,500
CEO CTCP Tập đoàn C.E.O 26,700
CJC CTCP Cơ Điện Miền Trung 22,000
CKV CTCP COKYVINA 20,000
CMC CTCP Đầu Tư CMC 7,900
CMI CTCP CMISTONE Việt Nam 2,500
CMS CTCP Xây dựng và Nhân lực Việt Nam 10,800
CPC CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ 17,000
CSC CTCP Tập đoàn COTANA 60,100
CT6 CTCP Công Trình 6 6,900
CTA CTCP Vinavico 1,800
CTB CTCP Chế tạo Bơm Hải Dương 24,100
CTC CTCP Gia Lai CTC 4,100
CTX TCT CP Đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam 7,300
CVN CTCP Vinam 6,200
CX8 CTCP Đầu Tư và Xây Lắp Constrexim Số 8 11,300
D11 CTCP Địa Ốc 11 17,000
DAD CTCP ĐT & PT Giáo Dục Đà Nẵng 23,100
DAE CTCP Sách Giáo Dục Tại Tp.Đà Nẵng 24,000
DBC CTCP Tập Đoàn Dabaco Việt Nam 18,200
DBT CTCP Dược Phẩm Bến Tre 11,800
CYC CTCP Gạch Men Chang Yih 5,900
MPC CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú 46,300
VNA CTCP Vận tải Biển Vinaship 33,800
BTH CTCP Chế tạo Biến thế và Vật liệu Điện Hà Nội 8,300
EFI CTCP Đầu tư Tài Chính Giáo dục 2,100
HDO CTCP Hưng Đạo Container 1,100
HPC CTCP Chứng khoán Hải Phòng 4,700
NPS CTCP May Phú Thịnh - Nhà Bè 26,400
PVA CTCP TCT Xây lắp Dầu khí Nghệ An 1,200
PVR CTCP Kinh doanh Dịch vụ Cao cấp Dầu khí Việt Nam 2,200
SDH CTCP Xây dựng Hạ tầng Sông Đà 1,800
SDY CTCP Xi măng Sông Đà Yaly 3,000
VBH CTCP Điện Tử Bình Hòa 8,400
VFR CTCP Vận tải và Thuê tàu 7,100
ABI CTCP BH NH Nông Nghiệp Việt Nam 47,000
ACE CTCP Bê Tông Ly Tâm An Giang 40,000
ADP CTCP Sơn Á Đông 20,000
BMJ CTCP Khoáng Sản Becamex 16,900
BTC CTCP Cơ Khí và XD Bình Triệu 58,000
BTG CTCP Bao Bì Tiền Giang 7,300
BVN CTCP Bông Việt Nam 10,400
BWA CTCP Cấp Thoát Nước & Xây Dựng Bảo Lộc 12,000
CAD CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex 1,700
CFC CTCP Cafico Việt Nam 9,100
CI5 CTCP Đầu Tư Xây Dựng Số 5 14,400
CT3 CTCP ĐT & XD Công Trình 3 9,000
CZC CTCP Than Miền Trung 5,000
DAP CTCP Đông Á 35,600
DAS CTCP Máy - Thiết Bị Dầu Khí Đà Nẵng 14,100
DBM CTCP Dược - Vật Tư Y Tế Đăk Lăk 41,800
DDN CTCP Dược & Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng 12,300
DGT CTCP Công Trình Giao Thông Đồng Nai 15,500
DLD CTCP Du Lịch Đắk Lắk 16,200
DNL CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng 23,100
DNS CTCP Thép Đà Nẵng 15,000
DPP CTCP Dược Đồng Nai 17,900
DTC CTCP Viglacera Đông Triều 6,100
DTV CTCP Phát triển Điện Nông thôn Trà Vinh 40,000
DVH CTCP Chế Tạo Máy Điện Việt Nam - Hungari 11,000
DXL CTCP Du Lịch & XNK Lạng Sơn 9,000
FBA CTCP Tập Đoàn Quốc Tế FBA 900
GDW CTCP Cấp Nước Gia Định 31,400
GER CTCP Thể Thao Ngôi Sao Geru 14,900
GGG CTCP Ô Tô Giải Phóng 6,800
GHC CTCP Thủy điện Gia Lai 27,600
GTH CTCP Xây Dựng - Giao Thông Thừa Thiên Huế 4,800
H11 CTCP Xây Dựng HUD101 7,800
HBD CTCP Bao Bì PP Bình Dương 14,000
HCI CTCP Đầu Tư Xây Dựng Hà Nội 29,500
HDM CTCP Dệt May Huế 30,400
Xem thêm...
saigontel land mcredit mua bán - sáp nhập công ty
  • Địa chỉ: Số 6 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội.
  • Điện thoại: (+84) 24 66873314
  • Email: contact@sanotc.com
Follow VinaCorp
Đã được cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp số 1472/ GP - TTĐT Ghi rõ nguồn "VinaCorp" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
© Copyright 2008-2022 VINACORP.VN. All Rights Reserved - OTC Vietnam Corp